Cần trả lại sự thật cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu

Cần trả lại sự thật cho

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Mail forwarded by Thanh Nguyen <T…….@gmail.com>
Source:
Chauxuannguyen2019.org

Cần trả lại sự thật cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sau 30/4/1975 Mỹ mở chiến dịch đổ tội làm mất nước cho Tổng Thống Thiệu để cho người ta không oán hận Mỹ đã bỏ rơi VNCH. Giờ đây đã 44 năm trôi qua, nếu người Mỹ không lên tiếng giải oan cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, thì cũng nên trả lại sự thật cho lịch sử.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho tới trước khi chết Ông vẫn cúi đầu nhận chịu trách nhiệm đã làm cho mất nước, một lỗi lầm quá to lớn mà cá nhân một người không thể nào gánh vác. Nếu có một người nào đó đứng ra nhận chịu thì quả là vô lý, thế nhưng Ông Nguyễn Văn Thiệu đã làm.

Kể từ ngày lập quốc, nước Mỹ thực sự sụp đổ vào năm 1975 với 3 triệu cựu chiến binh tại chiến trường Việt Nam, 58 ngàn người đã chết, và 3.000 quân nhân còn mất tích. Xã hội Mỹ phân hóa trầm trọng với tranh cãi đổ lỗi cho nhau.

Chính vì vậy mà những người quân nhân VNCH không bao giờ động chạm tới nỗi đau của người bạn chiến đấu Mỹ, họ đã làm hết sức của họ rồi, họ đã phải chết tới 58.000 người và đã hao tốn 300 tỉ USD, lại còn phải nuôi 3 triệu cựu chiến binh Mỹ mà người nào cuộc đời cũng tan nát do bị khủng hoảng, bị thất bại vì không thể trở lại trường để làm lại cuộc đời.

Hai chữ “Bỏ Rơi” là do BBC và RFI dùng để xoa dịu sự oán hận của người Việt sau khi Mỹ cắt ông tiếp huyết cho VNCH. “Bỏ Rơi Đồng Minh” khác với “Phản Bội Đồng Minh”. Bỏ Rơi có nghĩa là tôi thích thì tôi giúp, khi thấy mệt mõi quá thì tôi không giúp nữa. Còn Phản Bội là phỉnh gạt, lừa đảo. Cho nên người Mỹ muốn nhận là họ Bỏ Rơi VNCH còn hơn là nhận Phản Bội VNCH.

Năm 1968 anh sinh viên Frank Snepp quyết định làm đơn xin đầu quân vào CIA để tránh khỏi phải đi lính và chiến đấu tại VN. Năm 1969 Snepp bắt đầu làm viêc tại chi nhánh CIA tại Sài Gòn trong tư thế một nhân viên mới vào nghề. Năm 1971 ông trở về Trung tâm CIA tại Mỹ với nhiệm vụ phân tích những tin tức thu thập từ báo chí của Bắc Việt.

Đến năm 1972 ông bị đày đi VN vì tội đã báo trực tiếp cho Tòa Bạch Ốc một thông tin ông đọc được trên báo của Hà Nội mà không qua các xếp lớn của CIA. Nhiệm vụ lần thứ hai của Frank Snepp tại Việt Nam là đọc báo và nghe đài phát thanh của CSVN và VNCH để trình cho Polgar, trưởng CIA tại Sài Gòn, những tin nào mà ông ta thấy đáng quan tâm.

Sau biến cố 1975 Frank Snepp quyết định viết thành sách về những gì ông chứng kiến trong vai trò một nhân viên CIA làm việc tại VN trong giai đoạn Hoa Kỳ cuốn cờ ra khỏi Việt Nam. Nhờ đó ông nhanh chóng trở thành nhân chứng sống duy nhất dám tiết lộ những bí mật mà một nhân viên CIA không được phép tiết lộ.

CIA đã đưa ông ra tòa vì ông đã hành động trái với lời tuyên thệ khi ông bước chân vào tổ chức CIA. Tòa án đã phán quyết Frank Snepp không bị tội tiết lộ bí mật nghiệp vụ nhưng cũng quyết định cho thu hồi quyển sách “Decent Interval” của Frank Snepp. Tuy nhiên phán quyết này chỉ có hiệu lực hình thức bởi vì cả thế giới đều đã đọc Decent Interval..

Theo Frank Snepp thì mọi chuyện đều bắt đầu từ khi ký kết Hiệp Định Paris. Rồi 3 tháng sau khi ký kết Hiệp Định, Tổng Thống Nixon cử Martin làm đại sứ Mỹ tại VN thay Bunker. Frank Snepp mô tả vai trò của Đại sứ Martin: “Mỹ buộc phải bỏ khỏi Việt Nam trong tư thế đường hoàng, và muốn tạo được ấn tượng như vậy thì cần phải có một chuyên gia về ảo thuật và kịch nghệ mà Martin thuộc vào hạng sư phụ. (Trang 75, nguyên văn: “The United States was obliged to crawl out of Vietnam standing up, and to foster that illusion required the kind of conjuring and stagecraft at which Martin so adept”). Như vậy màn kịch bỏ rơi Việt Nam đã được lên giàn từ tháng 4 năm 1973.

Năm 1974 giữa năm, Tổng Thống Mỹ Nixon đệ trình Quốc Hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô. Đến lúc này Quốc Hội Mỹ mới biết rằng đây là cái giá mà Nixon đã trả cho việc Liên Xô ngưng cung cấp vũ khí cho Hà Nội và ép Hà Nội phải ký hiệp ước ngưng bắn 1973. Dĩ nhiên khi đưa ra trước Quốc hội, Nixon tin rằng sẽ được thông qua dễ dàng vì lợi ích chung của cả hai nước, nhất là từng bước giải quyết chiến tranh lạnh là điều mà dân chúng Hoa Kỳ mong chờ.

Tuy nhiên ông đã tính lầm, Quốc Hội Mỹ đoán rằng còn nhiều cái giá khác nữa giữa Nixon và Liên Xô, Trung Quốc, Hà Nội vào năm 1972. Vì vậy Quốc Hội bác bỏ thẳng thừng hiệp ước thương mại Xô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác. Dĩ nhiên là Nixon không đưa ra, ông dùng đặc quyền hành pháp để từ chối.

Vì vậy Quốc Hội có một cách khác để moi ra những gì mà Nixon đã cam kết với LX, TQ và Hà Nội vào năm 1972; đó là cách lợi dụng vụ Watergate để triệu tập một Ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén, nhờ đó công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và cả Hà Nội.

Nixon chỉ còn có cách từ chức để né tránh Ủy ban điều tra bởi vì ông và Kissinger đã có những thỏa thuận mật với đối phương mà không xin phép Quốc Hội. Một khi ông từ chức thì những cam kết của ông trở thành vô hiệu lực. Quốc Hội sẽ không còn cớ để truy xét.

Sau khi Nixon từ chức thì Quốc Hội Hoa Kỳ cho thông qua đạo luật cấm HK buôn bán với các nước Cộng Sản vào cuối năm 1974 (Đạo luật Jackson-Vanik). Sự trở mặt của Quốc Hội Mỹ đã khiến Liên Xô tức giận bởi vì những cam kết của Nixon khi ông ta viếng thăm Liên xô vào năm 1972 đã không được thi hành. Vì vậy, cuối năm 1974, Đại Tướng Kulikov của Liên Xô đến Hà Nội để xúi Hà Nội đưa quân đánh chiếm Miền Nam, Liên Xô sẽ cung cấp vũ khí và chiến phí.

Theo như 7 mục, 23 điều khoản của Hiệp Định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô kiện, trao trả tù binh VNCH để đổi lại VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt. Trong khi đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của mặt trận GPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ.

Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam Việt Nam. Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp Định Geneve 1954.

Nhìn bề mặt của Hiệp Định Paris quá vô lý cho nên giới quan sát quốc tế thừa biết bên trong phải có một mật ước riêng. Quả nhiên sau này vào năm 1977 Tổng Thống Jimmy Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp Định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp Định Paris 1973. Vào tháng 10 năm 1988 Hà Nội cho công bố toàn văn bản mật ước Nixon & Phạm Văn Đồng.

Theo đó thì Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho Bắc Việt 3,25 tỉ USD và viện trợ phát triển kinh tế cho Hà Nội 1,5 tỉ USD. Trong vòng 30 ngày sau khi người tù binh HK cuối cùng rời khỏi VN thì hai bên sẽ thiết lập xong hệ thống viện trợ tái thiết, và trong vòng 60 ngày sau đó thì lập xong hệ thống viện trợ phát triển kinh tế.

Bản mật ước do đích thân Kissinger mang tới Hà Nội cho Phạm Văn Đồng ký nhận. Từ đó Lê Duẩn ngày đêm trông chờ món tiền của Kissinger và đến cuối năm 1974, Liên Xô cử tướng Kulikov sang Hà Nội xúi Lê Duẩn đánh chiếm Miền Nam thì có nghĩa là Hiệp Định Paris coi như tờ giấy lộn. Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào, suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hằng triệu người chết, hằng chục tỉ đô la nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không (sic).

Tướng Kulikov xúi Hà Nội phát động chiến tranh trở lại nhưng Lê Duẩn và tập đoàn lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt. Dân chúng Miền Bắc đã kiệt sức, trong 5 năm nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng, bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16, tại Miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa… thì lấy đâu để gây chiến tranh trở lại.

*(Theo hồi ký của tướng CSVN Hoàng Văn Thái thì cho tới năm 1974 Hà Nội đã động viên đến 16% dân số, không thể nào động viên thêm được nữa. Trong khi Miền Nam là 5,88%)

Bắt đầu từ năm 1975 Đại Tướng Cao Văn Viên viết tường trình cho Ngũ Giác Đài về những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam nhưng đến năm 1983 mới được in thành sách với tựa đề “The Final Collapse” và hai mươi năm sau, 2003 The Final Collapse được nhà nghiên cứu sử Nguyễn Kỳ Phong dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa”. Trong sách có kèm theo những chú giải mới nhất của Đại Tướng Cao Văn Viên. “Một sự thực không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6 năm 1975…” (Tài liệu của Ngũ Giác Đài: Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 136).

Năm 1974 tháng Giêng, theo tài liệu của CIA: “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” (Frank Snepp, Decent Interval, trang 95).

Tướng John Murray là Tư Lệnh cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.. Ông đến Việt Nam sau Hiệp Định Paris 1973, sang đầu năm 1974 ông và Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ tại Việt Nam phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975. Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là có thể dưới 700 triệu đô la nhưng theo các chuyên viên tham mưu của John Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4.

Năm 1974 cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8 John Murray họp buổi họp chót với Đại Tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng), Tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận) và một số tướng lãnh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2 và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

Năm 1974 tháng 5, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng (Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch của VNCH) thì ông đã tình cờ trông thấy bản kế hoạch “Cắt Đất Theo Lượng Viện Trợ” của Murray nằm trên bàn của Tổng Thống Thiệu vào tháng 5 năm 1974, nghĩa là 2 tháng trước khi Nixon từ chức. Như vậy Murray chính là tác giả của kế hoạch bỏ Vùng 1, Vùng 2 vào năm 1975, một kế hoạch mà cho tới 40 năm sau người ta vẫn cho là sáng kiến (tối kiến) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Sự thực Tổng Thống đã bị báo chí Mỹ cố tình gieo tiếng oan mà lúc đó Ông không thể lên tiếng thanh minh.

Năm 1974, ngày 24-12: Theo hồi ký của Đại Tá Phạm Bá Hoa “Ngày 24-12-1974, lúc quân CSVN đang tấn công Phước Long sang ngày thứ 10; một buổi tiệc mừng Giáng Sinh được Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, tổ chức trên lầu của Câu lạc Bộ trong BTTM”. Khách tham dự gồm có Tướng Smith (Chỉ Huy Trưởng cơ quan quân sự HK tại VN; Tướng Quân Y Phạm Hà Thanh; Tướng Công Binh Nguyễn Văn Chức; Đại Tá Phạm Kỳ Loan (Tổng Cục Phó Tiếp Vận); Đại Tá Phạm Bá Hoa (Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận); Đại Tá Pelosky (Phụ Tá của Tướng Smith); Trung Tá Nguyễn Đình Bá (Chánh Văn Phòng của Tướng Khuyên).

Tướng Smith tiết lộ rằng: “Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu đollar để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” (Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, Bản in lần 4, trang 264). Khi sách của Phạm Bá Hoa phát hành thì tất cả các nhân vật trong bữa tiệc đều còn sống mạnh khỏe nhưng không ai phản đối, kể cả Tướng Smith; chứng tỏ chuyện này hoàn toàn có thật.

Như vậy là kịch bản bỏ rơi Miền Nam đã được lên giàn trước khi mất Phước Long chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột. Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6 năm 1975, kể cả ước tính trước ngân sách chi dụng cho kế hoạch.

Năm 1975, ngày 7-1: Phản ứng của Mỹ sau khi mất Phước Long là: “Nhà Trắng nói rằng: Tổng Thống Ford không có ý vi phạm những điều cấm chỉ (của Quốc Hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam” (Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, trang 161). Khi vừa nghe tin này Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Cho kẹo quân Mỹ cũng không dám trở lại VN”(trang 146).

Ngay sau khi nhận được tin, Lê Duẩn chỉ thị cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái lên kế hoạch tiến chiếm miền Nam: “Một tháng sau chiến thắng Phước Long, ngày 5 tháng 2, anh Văn Tiến Dũng lên đường vào Tây Nguyên” (Hoàng Văn Thái, trang 172).

Ngày đó cơ quan USIS của CIA tung tin quân VNCH thua tại Phước Long là do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cố tình bỏ Phước Long để thử xem phản ứng của Mỹ.

Sở dĩ CIA đổ cho Nguyễn Văn Thiệu
là để Quốc Hội Mỹ có cớ biểu quyết ngưng viện trợ quân sự
cho VNCH

-Tuần đầu của tháng 3 năm 1975. Trong một cuộc họp đầu tuần của Bộ Ngoại Giao HK, Kissinger đã giải thích hành động viện trợ “Lấy Có” cho Cam Bốt: “Chính Phủ Lon Nol đang trên đà sụp đổ, đây là nguyên do chính khiến chúng ta phải tiếp tục viện trợ để cho sau này không ai có thể trách chúng ta vô trách nhiệm”. (Frank Snepp, Decent Interval, trang 175). *(Nguyên văn: “…he say, the Lon Nol Government was on the brink of collapse, it was essential to keep open the aid pipeline so no one could later blame the United States for the disaster”).

– Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức Ngoại Giao HK trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông: “Hãy làm mọi cách để Quốc Hội tiếp tục duy trì viện trợ (Lấy Có) cho Cam Bốt và Việt Nam. Không phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” (Frank Snepp, Decent Interval trang 176). *(Nguyên Văn: Do every thing possible to ensure that Congress lived up our aid commitments to Cambodia and Vietnam- not because the two countries were necessarily salvageable, but precisely because they might not be).

Hai ngày sau khi Kissinger nói câu này thì Văn Tiến Dũng ra lệnh tấn công Ban Mê Thuột.

Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng Việt Nam sụp đổ do không còn viện trợ. Và với mức độ viện trợ nhỏ giọt thì đến ngày 30-6-1975 quân đội VNCH sẽ không còn Gạo và không còn Đạn (Tài Liệu The Final Collapse của Đại Tướng Cao Văn Viên). Vì thế Kissinger mong cho Quân đội VNCH tự tan rã trước khi hết Gạo và Đạn trước tháng Sáu năm 1975. Lúc đó thiên hạ sẽ nghĩ rằng Quân Đội Sài Gòn đã thua chạy trước sức tiến công vũ bão của quân Hà Nội.

Năm 1975 ngày 11-3, một ngày sau khi mất Ban Mê Thuột. Theo Đại Tướng Cao Văn Viên “Ngày 11-3 Tổng Thống Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại Dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975”. Tướng Viên ghi lại cảm nghĩ của ông lúc đó: “Quyết định của Tổng Thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng. Hình như Tổng Thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”

*“… Tổng Thống Thiệu phác họa sơ: …Một vài phần đất quan trọng đang bị Cộng Sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi gía…Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại…” (Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131).

“Ngay sau khi Phước Long bị tấn công, Hoa Kỳ không có một phản ứng nào … . Một thực tế gần như hiển nhiên là Hoa Kỳ không muốn cuộc chiến tiếp tục và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc” (trang 132).

Henry Kissinger viết trong hồi ký của ông:
“Cho đến hôm nay tôi kính trọng ông Thiệu như là một gương hào hùng của một kẻ dám chiến đấu cho nền tự do dân tộc của ông, một kẻ sau này đã chiến bại bởi những hoàn cảnh ngoài tầm tay cá nhân ông, đất nước ông và ngay cả ngoài vòng quyết định của chúng ta…” ( Henry Kissinger, Years of Upheaval, 1981, Bản dịch của Xuân Khuê)

Kissinger là người mà T.T. Nguyễn Văn Thiệu ghét cay ghét đắng cho tới khi xuống mồ. Trong khi ngược lại, Kissinger cũng làm ra vẻ ghét cay ghét đắng T.T. Nguyễn Văn Thiệu, kẻ mà báo chí và nhân dân Mỹ luôn luôn nguyền rủa là cản trở và phá hoại hòa bình.

Tuy nhiên cuối cùng, khi mà hòa bình đã đạt được bằng cái giá phản bội dân tộc Việt Nam, Kissinger mới bình tâm thú thực cảm nghĩ của ông ta về người anh hùng lãnh đạo đất nước Việt Nam trong thời gian gay cấn nhất của lịch sử. Kissinger nói :

“… Sau khi ngưng bắn, quân đội chúng ta sẽ rút về bên kia bán cầu, còn dân tộc của ông vẫn còn cảnh một đội quân tiếp tục hy sinh cho những hy vọng mong manh của nền độc lập tại Đông Dương. Chúng ta đã chắc rằng biện pháp của chúng ta sẽ kềm hãm tham vọng của Hà Nội. Nhưng mắt của ông T.T. Thiệu chỉ quan ngại vào những điều mong manh về sau này…” ( Bản dịch của Xuân Khuê ).

Kissinger cũng thú thực là vì không còn cách lựa chọn nào khác cho nên Mỹ đành phải hy sinh Nam Việt Nam, và cũng vì vậy mà Kissinger đành phải đóng vai làm kẻ thù của T.T. Nguyễn Văn Thiệu nhưng tự sâu xa trong đáy lòng, Kissinger khâm phục T.T. Thiệu :

“…Như là một phép lạ phát xuất từ lòng dũng cảm, ông Thiệu đã cố gắng lèo lái quốc gia trong giai đoạn cam go này, chiến đấu chống lại quân thù cố tâm xâm lấn và làm an tâm đồng minh nào chưa thông hiểu ông …

… Về riêng tư tuy tôi dành ít cảm tình về ông T.T. Thiệu nhưng tôi rất kính nể ông vì ông là một người kiên tâm chiến đấu trong nỗi cô đơn ghê gớm ( nguyên văn: terrible loneliness ) sau cuộc rút quân của Hoa kỳ. Ông chấp nhận những cảm tình và thông hiểu ít ỏi dành cho ông. Chuyện đó không làm phẩm chất của ông hao mòn đi…” ( Bản dịch của Xuân Khuê ).

Ngày 22-10-1972 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nổi giận khi Kissinger ép buộc ông phải chấp nhận bản dự thảo Hiệp định đình chiến mà Kissinger đã cùng Lê Đức Thọ soạn thảo tại Paris. Ông khuyến cáo Kissinger :

“Tôi không đồng ý về việc một số nhân viên của quý vị đi nói khắp Sài Gòn là tôi đã ký. Tôi chưa ký kết gì cả. Tôi không phản đối hòa bình nhưng tôi chưa nhận được một trả lời thỏa đáng nào của quý vị cho nên tôi sẽ không ký”.

Kissinger mất bình tỉnh với tuyên bố của Tổng thống Thiệu, ông nói ông đã thành công ở Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và Paris mà bây giờ ông phải thất bại tại Sài Gòn : “Nếu ngài không ký, chúng tôi sẽ xúc tiến một mình”.

Tới phiên Thiệu nổi giận, ông buộc tội Kissinger là thông đồng với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa để bán đứng Miền Nam. Hồi ký của Kissinger ghi lại lời lẽ của Thiệu:

“Là một quân nhân thì lúc nào cũng phải chiến đấu, nếu tôi không phải là một quân nhân thì tôi đã từ chức khi HK yêu cầu tôi từ chức và còn mặc cả với tôi về ngày giờ từ chức… … Tôi chưa hề nói với ai là người Mỹ đã đòi tôi từ chức, vì như vậy là nhục; cho nên tôi đã làm như tự mình chọn lấy quyết định đó…” (Kissinger, White House Years, trang 1385).

Kissinger đáp lại : “Tôi cảm phục tính hy sinh và lòng can đảm của ngài qua lời phát biểu vừa rồi. Tuy nhiên, là một người Hoa Kỳ, tôi không khỏi phiền lòng khi ngài cho rằng chúng tôi thông đồng với Liên Xô và Trung Quốc.

Làm sao ngài có thể nghĩ như vậy được trong khi quyết định ngày 8-5 của Tổng thống Nixon ( Thả bom Hà Nội và phong tỏa các hải cảng Bắc Việt ) đã liều cả tương lai chính trị của mình để giúp quý ngài. Chúng tôi điều đình với Liên Xô và Trung Quốc là để làm áp lực, buộc họ phải làm áp lực với Hà Nội… Nếu như chúng tôi muốn bán đứng quý ngài thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó…”( Kissinger, White House Years, trang 1385, 1386 ).

Rồi tới phiên Đại sứ Bunker mất bình tỉnh : “Vậy thì thưa Tổng thống, lập trường chót của ngài là không ký, có phải không?”

T.T. Thiệu đáp : “Vâng, đó là lập trường cuối cùng của tôi. Tôi sẽ không ký và tôi xin ngài thông báo cho Tổng thống Nixon biết như thế. Xin quý vị trở lại Washington và nói với Tổng thống Nixon rằng tôi cần được trả lời”.

Tổng thống Thiệu chỉ tay vào bản đồ Việt Nam rồi nói : “Có gì quan trọng khi Hoa Kỳ để mất một quốc gia nhỏ bé như Nam Việt Nam? Chúng tôi không hơn gì một chấm nhỏ trên bản đồ của thế giới đối với các ông… … Nhưng đối với chúng tôi, đó là một sự chọn lựa giữa sự sống và sự chết.

Đối với chúng tôi, đặt bút ký vào một hiệp ước tương đương với sự đầu hàng là chấp nhận một bản án tử hình, vì cuộc sống không có tự do là sự chết. Không, nó còn tệ hơn là sự chết” ( Larry Berman; No Peace, No Honor; trích từ Văn khố Bộ ngoại giao HK, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 230 ).

Sau 1975 thì người Mỹ muốn lái sự oán hận mất nước của nhân dân Miền Nam vào ông T.T. Nguyễn Văn Thiệu và quân đội VNCH để quên đi hành động “bán đứng đồng minh” của Mỹ *( Lời của ông T.T. Nguyễn Văn Thiệu nói thẳng vào mặt Kissinger năm 1972 ). Họ vận động các phương tiện truyền thông tiếng Việt tại hải ngoại kết án ông Thiệu làm cho mất nước. Họ kết án quân đội VNCH hèn nhát, tham nhũng v.v,… Họ dập tắt tiếng nói thanh minh của ông Thiệu và của những quân nhân VNCH. Họ thuê bọn vô lại biến phong trào chống Cọng sản tại hải ngoại thành những trò thối tha vô liêm sỉ….!

Hằng năm cứ vào mùa tháng Tư thì các phương tiện truyền thông tiếng Việt như RFA, BBC, …lại rộn lên những luận điệu kêu gọi hòa hợp hòa giải giữa chế độ CSVN và những người đã bị đuổi chạy ra nước ngoài. Họ coi những người rượt đuổi và những người bị đuổi đều tội lỗi như nhau.

Trong khi đó cuộc chiến Nam Bắc Hàn cũng giống hệt như cuộc chiến Việt Nam. Nhưng ngày nay RFA, BBC… nói cho con cháu Nam Hàn rằng năm 1950 quân Bắc Hàn tràn qua vĩ tuyến 38 đánh chiếm Nam Hàn. Quân đội Mỹ đã giúp nhân dân Nam Hàn đẩy lui quân Bắc Hàn về Bắc. Tội lỗi đều là phía Bắc Hàn chứ phía Nam Hàn không có lỗi.

Nhưng đối với cuộc chiến Việt Nam thì quân Bắc Việt cũng tràn qua vĩ tuyến 17 đánh chiếm Miền Nam nhưng Mỹ lại nói : Phía CSVN và phía VNCH đều có lỗi cho nên Mỹ đứng giữa không biết giúp bên nào !! Cho tới nay cũng chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái.

Cũng vì chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái cho nên cho tới nay danh dự của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa được phục hồi. Người Mỹ vẫn muốn con cháu Việt Nam nhìn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu như là một kẻ luôn luôn cản trở và phá hoại hòa bình.

Bùi Anh Trinh

Last BLockbuster Store on Earth

Source: Internet

Scott Thornton takes a selfie last year in front of the Bend, Ore., Blockbuster. The store became the last one in the U.S. last year, and now it’s the only one in the world. (Ryan Brennecke / The Bulletin via AP, file)

The Blockbuster Video store in Bend, Oregon is now the chain’s last remaining video rental store in the world

The Bulletin said the Oregon store shows no signs of closing, as tourists have made it a destination, especially since the Alaska stores closed. Harding told the newspaper many of their visitors don’t rent a movie from the store, but instead buy shirts or other momentos, which are all created by local businesses. Manager Sandi Harding says the store is a tourist attraction and won’t close anytime soon.

But locals have been renting more movies, Harding said, adding that the store usually opens about 10 new accounts a day

 

More reading

 

Chuyện ‘con trai của Marx’ và người đầy tớ gái ở London

BBC

 

  • Bản quyền hình ảnh Mondadori Portfolio
    Image caption Karl Marx, Friedrich Engels và ba con gái của Marx

    Các đoàn thăm mộ Karl Marx ở nghĩa địa Highgate, London có thể không biết rằng còn một người nữa gắn bó với gia đình ông tổ chủ nghĩa cộng sản cũng được chôn cất tại đó.

    Đó là bà Helene Demuth, người đầy tớ từ Đức theo Jenny von Westphalen sang Anh để phục vụ cho nhà Marx và đã sinh cho Karl Marx một con trai, theo các sử liệu tại Anh.

    Thời kỳ tại London là giai đoạn gia đình Marx sống cơ cực vì bần hàn, bệnh tật.

    Trong bảy con của họ có bốn chết hồi nhỏ: hai con trai Charles Edgar, Henry, con gái Franziska, và thêm một em bé tử vong lúc sơ sinh chưa kịp đặt tên.

    Cũng không biết vì lý do gì mà trong ba con gái trưởng thành của Marx, Jenny Caroline, Jenny Laura và Jenny Eleanor, thì hai người tự tử.

    https://ichef.bbci.co.uk/news/624/cpsprodpb/4066/production/_101168461_gettyimages-462128506.jpg

    Bản quyền hình ảnh Carl Court
    Image caption Căn nhà số 28 Dean Street, khu Soho, London có tấm biển nhỏ về Karl Marx. Đây cũng là nơi Helene Demuth sinh ra con trai Freddy

    Trên nền một gia đình bất hạnh như thế, người ta nói đến cuộc sống khoẻ mạnh, ổn định và đáng kính của Freddy Lewis Demuth, con ngoại hôn của Marx ở Anh.

    Gia đình phức tạp

    Ta hãy điểm lại cuộc sống di cư vất vả vì hoạt động cách mạng của Karl Marx cùng các vấn đề tình ái của ông.

    Sau Cách mạng 1848, Marx bị trục xuất khỏi quê hương ở Đức và bị đuổi khỏi Brussels nên đem vợ con sang Anh.

    Ông xin nhập tịch Anh mà không được và suốt đời chỉ là một kiều dân Đức có quyền cư trú.

    Về hoàn cảnh cá nhân, Karl Marx (1818-1883) chỉ là nhà báo nghèo gốc Do Thái nhưng cưới vợ là Johanna Jenny von Westphalen, con nhà quý tộc Phổ (Prussia).

    Đằng nội Jenny có các quan chức cao cấp, còn họ ngoại (Wishart) là quý tộc Scotland, trực hệ của vua James I Stuart.

    Cuộc hôn nhân vì lý tưởng – cha của Jenny tin vào Cách mạng Pháp và chủ nghĩa xã hội sơ khai – nhưng bất bình đẳng về gia thế là vấn đề cho cuộc đời hai người.

    Cả hai đều không biết kiếm tiền nhưng cố sống theo phong cách nhà giàu và mọi việc trong nhà đều cần đầy tớ.

    Sau khi sang Anh, Jenny đã có lần trở về Đức xin gia đình trợ giúp kinh tế nhưng bị từ chối.

    Helene Demuth (1820-1890) là con gái một người thợ làm bánh, từ tuổi nhỏ đã làm hầu gái cho Jenny, và cùng gia đình Marx sang Anh.

    Còn gọi là Nimy hoặc Lenchen, Helene chuyển sang làm người hầu cho Friedrich Engels sau khi Marx chết.

    Câu bé trở thành người Anh

    Marx làm Helene có thai cùng lúc vợ ông Jenny mang thai con gái Jenny Eveline Frances tức Franziska. Bé này chết khi chưa đầy một tuổi năm 1852.

    Nhưng bé trai con của Helene sinh ra khoẻ mạnh năm 1851 ở căn nhà 28 Dean Street, Soho.

    Để ‘chạy tội’ cho bạn, Engels đã nhận với Jenny rằng ông là cha của Freddy, theo Mary Gabriel trong cuốn sách ‘Love and Capital’ về Marx và Jenny.

    Không chỉ có chuyện làm người hầu có mang, Marx bắt Helene đuổi bé trai Freddy khỏi nhà ngay sau khi chào đời.

    Helene Demuth và Jenny Marx

    Bản quyền hình ảnh Getty Images
    Image caption Helene Demuth (trái) làm hầu gái cho Jenny von Westphalen (phải) ở Đức và sau sang Anh sống cùng gia đình Jenny và Karl Marx cho đến lúc cuối đời

    Ngày nay, một số tác giả thiên vị Marx tìm cách giải thích cho hành động này.

    Theo họ, việc đem Freddy cho người khác nuôi (foster out) là đúng theo các quy tắc ứng xử thời đó ở Anh: một gia đình khả kính không nuôi con của ôsin.

    Harrison Fluss và Sam Miller thì viết trên một tạp chí thiên tả ở Anh hồi 2016, giải thích rằng dù Karl Marx có con riêng với Helene nhưng chính tình yêu ‘vô hạn’ của Jenny đối với chồng đã giúp gia đình họ vượt qua cuộc khủng hoảng.

    Được một gia đình người Anh họ Lewis ở khu xóm nghèo Hackney nhận về, Freddy Lewis Demuth đã lớn lên làm thợ, rồi nhà hoạt động nghiệp đoàn.

    Chính ông đã sáng lập ra chi bộ của Đảng Lao Động Anh tại khu Hackney và thường đọc các sách của Marx và Engels viết.

    Ông cũng có mặt trong các hoạt động cánh tả quốc tế, theo trang Hackney History.

    Con trai Freddy và bà Ellen Murphy (người Ireland) có tên là Harry và hồi nhỏ vẫn tới nhà Engels để thăm bà nội Helene.

    Harry Lewis tiếp tục đi theo các hoạt động xã hội và tham gia nhóm Dân chủ Xã hội Hackney, London nhưng dừng ở đó chứ không theo chủ nghĩa cộng sản.

    Sau đó, ông sang Australia định cư.

    Những khoản tiền lớn trong gia đình cộng sản

    Ngày nay, các tác giả Anh và Mỹ coi Freddy hoàn toàn là người Anh và không bày tỏ nhiều thiện cảm với nhóm người Đức ‘cách mạng’ là Marx và Engels.

    Mary Gabriel cho rằng cuộc hôn nhân của Marx chắc chắn không có gì là ‘Marxist’ tức là không hề nhân ái, bình đẳng như ông rao giảng.

    Theo ghi nhận của Louise Kautsky, vợ của Karl Kautsky – nhà Marxist nổi tiếng bị Lenin sau này chửi là ‘tên phản bội’ – thì Engels luôn lạnh nhạt với Freddy.

    Trước khi chết năm 1895, Engels đã nói với các con gái của Marx rằng ông không phải là cha của Freddy.

    Điều này được ghi lại trong các bức thư Eleanor viết cho Laura rằng cô cảm thấy có lỗi ‘suốt đời’ với Freddy.

    Nay ta cũng biết các con gái lớn nhà Marx đã có gắng làm sao để Freddy có tên trong di chúc Engels để lại nhưng không thành.

    Năm 1896, Eleanor Marx giới thiệu Freddy với Clara Zetkin tại Quốc tế Xã hội Chủ nghĩa II ở Queen’s Hall, Langham Place, London, là “anh cùng cha khác mẹ của tôi”.

    Bản quyền hình ảnh HackneyHistory
    Image caption Freddy Demuth lúc trẻ – hình của trang HackneyHistory

    Khi qua đời, Engels, nhà tư bản bỏ tiền cho Marx viết về chủ nghĩa cộng sản, để lại gia sản rất lớn, tương đương 4,8 triệu đô la ngày nay.

    Freddy

    Trong số đó, phần cho các con gái Marx là bằng 2 triệu bảng Anh bây giờ, cộng thêm 20% cổ phần trong nhà máy.

    Ngoài ra, di chúc của Engels không để lại gì cho ai khác vì chính thức mà nói, ông không có con.

    • Jenny Caroline Marx Longuet, con gái cả của Marx, chết năm 39 tuổi ở Argenteil, Pháp.
    • Eleanor Marx tự sát chết ở London năm 1898 và được chôn cất trong nghĩa địa Highgate cùng cha mẹ.
    • Laura Marx tự tử ở Graveil, Pháp năm 1911 cùng chồng là Paul Lafargue, nhà hoạt động xã hội chủ nghĩa Pháp gốc Cuba.
    • Từ đó, trong các con của Marx chỉ còn lại người con không được thừa nhận là Freddy.

    Nhưng khi ông qua đời năm 1929, Freddy để lại gần 2000 bảng Anh (bằng 120 nghìn năm 2017), khoản tiền rất lớn với người chỉ làm công nhân.

    Điều này khiến người ta tin rằng ông có nhận được một phần tiền thừa kế Engels để lại từ chị em nhà Marx.

    Cuối cùng thì tình cảm và đồng tiền có vẻ vẫn rơi lại cùng một chỗ.

    Câu chuyện tình, tiền về những người cộng sản nhập cư đầu tiên tại Anh tiếp tục khiến dư luận Anh ngạc nhiên.

 

 

More reading

30 năm World Wide Web

Google kỷ niệm 30 năm World Wide Web
cái nôi của Internet

TGTH

Sự bùng nổ về số lượng các website giúp người dùng Internet tăng trưởng từ vài triệu của thập niên 90, lên hơn 4,2 tỷ vào cuối năm 2018. 

Hôm nay (12/3), Google kỷ niệm 30 năm ra đời của Word Wide Web thông qua tính năng Google Doodle.

World Wide Web, gọi tắt là Web hoặc WWW, hay mạng lưới toàn cầu, là một không gian thông tin toàn cầu mà mọi người có thể truy cập (đọc và viết) thông tin qua các thiết bị kết nối với mạng Internet.

Hệ thống thông tin trên Internet cho phép các tài liệu được kết nối với các tài liệu khác bằng các liên kết siêu văn bản, cho phép người dùng tìm kiếm thông tin bằng cách di chuyển từ tài liệu này sang tài liệu khác.

Nhờ có sự bùng nổ của World Wide Web, số lượng người dùng Internet ngày một tăng, giúp nhân loại tiếp cận được kho tri thức vô tận chỉ bằng cách sử dụng máy tính hoặc một chiếc điện thoại thông minh.

Cùng nhìn lại những cột mốc đáng nhớ của Internet – thế giới mà nay đã có hơn 4,2 tỷ người luôn thường xuyên sử dụng.

1969: Cha đẻ của Internet

Tháng 10/1969, các nhà nghiên cứu tại trường Đại học California, Los Angeles (UCLA) đã thử nghiệm chuyển đổi dữ liệu giữa hai máy vi tính tách rời.

Nhiệm vụ đầu tiên của họ là nhập vào 3 ký tự “LOG”, rồi cố gắng gửi sang thiết bị kia dưới dạng nhị phân, rồi sau đó mới gửi tiếp hai chữ cái I và N để tạo thành chữ “LOGIN” (đăng nhập).

Sau nhiều nỗ lực, các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm thành công điều tưởng như vô cùng đơn giản nói trên. Ít ai biết rằng hệ thống này được coi là “cha đẻ của Internet”, phát triển từ 4 máy tính được sử dụng bởi mạng lưới nội bộ trong trường Đại học và quân sự. Dự án có tên là ARPANET, và được tài trợ bởi Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ.

Hệ thống mở rộng thành 13 máy tính vào năm 1970, và 213 máy tính vào năm 1981.

1971: Tin nhắn điện tử đầu tiên

Năm 1971, nhà nghiên cứu người Mỹ Ray Tomlinson thực hiện thành công email điện tử đầu tiên trên mạng ARPANET. Ông gửi tới từng tài khoản trong mạng lưới thông qua ký tự @ mở đầu – cũng giống như khi chúng ta gửi email ngày nay.


1983: Mạng lưới kết nối

Để chuyển giao dữ liệu giữa 2 máy tính trong cùng mạng lưới, giao thức (protocol) là điều kiện cần, cùng một loạt các giai đoạn được kiểm soát bởi các quy tắc giao tiếp.

Trong những năm 1979, hai nhà nghiên cứu người Mỹ là Robert Kahn và Vinton Cerf đã phát triển thành công giao thức TCP / IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol), và vẫn được sử dụng cho tới ngày nay. Nó cho phép trao đổi dữ liệu giữa các máy tính trong cùng một mạng nội bộ hoặc khác mạng.

Giao thức được thông qua vào ngày 1/1/1983 trên hệ thống ARPANET, cho phép nó lần đầu tiên chính thức liên kết với các mạng máy tính khác, chủ yếu là tại các trường đại học. Từ những kết nối này, Internet đã được ra đời.

1990: Đón chào sự ra đời của World Wide Web

12/3/1989, nhà nghiên cứu người Anh Tim Berners-Lee, làm việc tại viện nghiên cứu CERN, đề xuất một hệ thống quản lý thông tin phi tập trung. Hệ thống này đã báo hiệu sự ra đời của World Wide Web.

Quan điểm của ông là CERN có hàng ngàn nhân viên cùng những người mới đến vào mọi thời điểm trong tháng, khiến việc tìm kiếm thông tin trở nên phức tạp do không được lưu trữ ở cùng một nơi.

Ông đề xuất một hệ thống các liên kết siêu văn bản, với khả năng khi nhấp chuột vào các từ khóa, chúng được dẫn trực tiếp đến một trang web khác với nội dung cụ thể.

Năm 1990, nhà nghiên cứu người Bỉ Robert Cailliau đã hợp tác với Berners-Lee để hiện thực hoá phát minh của mình. Nó dựa trên hai yếu tố chính là ngôn ngữ HTML và giao thức trao đổi siêu văn bản HTTP.

Vào tháng 12, máy chủ WWW đầu tiên đã đi vào hoạt động. Đây được mô tả là một hệ thống nơi các trang web, hình ảnh và video được lưu trữ – hay còn được coi là trang web đầu tiên trên thế giới.

Trang web được công khai vào tháng 4/1993, và bắt đầu lan rộng từ tháng 11 với sự ra mắt của Mosaic, công cụ tìm kiếm đầu tiên chấp nhận hình ảnh. 
Điều này tạo ra cuộc cách mạng hóa website, giúp nó thân thiện hơn với người dùng.

Sau đó, Mosaic dần được thay thế bằng các ứng dụng như Internet Explorer, Google Chrome và Mozilla Firefox. Nhờ có web, số lượng người dùng Internet đã thực sự bùng nổ, từ vài triệu người vào đầu những năm 1990 đến hơn 400 triệu người vào năm 2000.

Thập niên 2000: Kỷ nguyên di động và mạng xã hội

Những năm đầu của thập niên 2000 đánh dấu bước chuyển đổi mạnh mẽ sang mạng không dây, nơi thiết bị di động và mạng di động đóng vai trò chủ chốt.

Tất cả bắt đầu từ năm 2007, khi Apple ra mắt chiếc iPhone đầu tiên, mở ra một kỷ nguyên mới cùng sự tham gia của không dưới 20 hãng di động tại khắp nơi trên thế giới. 10 năm sau, số người sử dụng mạng di động tăng từ 268 triệu, lên thành 4,2 tỷ người trên khắp thế giới.

Mạng xã hội bắt đầu từ dự án mang tên Facebook, được Mark Zuckerberg trình làng vào năm 2003. Dự án lúc bấy giờ chỉ hoạt động như một mạng nội bộ dành cho các sinh viên trường Đại học Harvard.

Cho tới nay, Facebook đã có hơn 2,3 tỷ người dùng.

 

More reading

Chủ nghĩa CS goulash ở Hungary từng hiệu quả vì “ngon bổ rẻ”

Chủ nghĩa CS goulash ở Hungary
từng hiệu quả vì “ngon bổ rẻ”

Nguyễn Giang BBC

More reading

  • Mùa hè năm 1990 tôi sang Hungary lần đầu và thấy choáng ngợp trước đường phố đầy hàng hóa, tuyến xe điện ngầm hiện đại ở Budapest.

    Đã qua các thành phố xám ngắt của Liên Xô, tới một Ba Lan chỉ có ‘dấm, sữa chua và Coca Cola trên quầy’ trong cửa hàng, tôi và mấy người bạn sinh viên từ Việt Nam cảm nhận được Hungary ‘đúng là tư bản rồi’.

    Sau này đọc sách thêm mới biết Hungary từng có ‘chủ nghĩa cộng sản goulash’, món ăn tinh thần ‘nhiều, bổ và rẻ’ phù hợp với thực tiễn chính trị Chiến tranh Lạnh.

    Mà câu chuyện này phải đưa chúng ta trở về những năm 1960.

    Nữ bác sĩ Hungary ‘làm bạn’ với Kim Nhật Thành
    Bác sỹ người Việt tại Budapest nói về cuộc sống ở Hungary
    Chủ tịch Quốc Hội VN thăm Hungary

    Chủ nghĩa cộng sản ‘súp thịt’

    Gulyáskommunizmus, hay đường lối Kadarism, mang tên TBT Đảng Cộng sản Hungary János Kádár khi đó, là một biến thể của mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa, hình thành tại CHND Hungary sau biến cố 1956.

    Để nắm quyền mà không phải trở lại với các biện pháp cực đoan thời Stalin, một số nước Đông Âu được Moscow cho phép thí điểm cơi nới hệ thống.

    Mặt khác, thấy sự phản kháng của dân năm 1956 trước quân đội Liên Xô, Đảng Công nhân XHCN Hungary (cộng sản) thấy cần ‘tháo van’ kiểm soát để kinh tế dễ thở hơn.

    Hàng chục năm trước Khai phóng ở Trung Quốc và Đổi mới ở Việt Nam, Hungary cho áp dụng vài nét của kinh tế thị trường trong nông nghiệp và buôn bán lẻ.

    Được gọi là ‘chủ nghĩa cộng sản goulash’, theo tên món súp thịt nổi tiếng của người Hungary, đây cũng là sự tạm gác bỏ ý thức hệ.

    Janos Kadar hiểu rằng người dân không mặn mà gì với chủ nghĩa cộng sản, nhưng miễn là họ đừng đụng vào chính trị thì nhà nước cũng để yên cho họ làm ăn.

    Trong giáo dục, truyền thông, đảng cầm quyền cũng không bắt toàn xã hội phải ca tụng họ như trước.

    Các lãnh đạo, như bản thân ông Kadar, đều né tránh bị mô tả như ‘lãnh tụ vĩ đại’ – vì dư âm tiêu cực của thời Stalin.

    Người dân cũng không phải tích cực ủng hộ cuồng nhiệt chế độ XHCN, mà chỉ cần họ không chống là tốt rồi.

    Janos Kadar nói câu nổi tiếng: “Ai không chống chúng ta là bạn của chúng ta.”

    Đây là cách nhìn thực tiễn và ‘chọn mẫu số chung thấp nhất’, để xây dựng quan hệ phải chăng giữa đảng cầm quyền và dân.

    Nhưng điểm cốt yếu của ‘chủ nghĩa cộng sản súp thịt’ vẫn là kinh tế.

    Ở đây, Kadar đã làm được những điều mà người tương nhiệm Ba Lan, Edward Gierek không làm nổi.

    Đầu tiên là về chế độ nửa cộng sản, nửa tư nhân trong quản lý nông nghiệp.

    Kadar hiểu nông dân Hungary không thích vào các nông trang tập thể, nên hệ thống tập thể hóa ở nông thôn bị xóa bỏ.

    Nhưng ông không thể bỏ nó hẳn, ít ra là về cái tên.

    Sau năm 1956, các nông trường nhà nước Hungary mất 2/3 thành viên. Nhiều nông dân tự bỏ và về làm vườn riêng.

    Kadar chấp nhận tình trạng đó nhưng mời họ vào hợp tác xã mà cơ chế quản lý thoáng hơn nông trường.

    Người ta được thuyết phục là vừa giữ nguyên miếng bánh vừa có thể ăn nó thoải mái. Không ai cần phải lo âu về các khoản nợ, vốn chỉ tăng thêm nhờ lương hưu hào phóng thời cộng sản

    Dan Payne

    Rút cục là nông dân Hungary, cho đến những năm 1957-59, làm ăn trong tình trạng ‘tự nguyện vào hợp tác’ để thực sự là làm ăn riêng.

    Họ thuê dài hạn đất đai từ nhà nước, tự chăm lo các đàn gia súc, và bán sản phẩm ra chợ hoặc bán lại cho chính quyền.

    Nhà nước cũng trợ cấp nhiều về vốn và công nghệ cho các hợp tác xã.

    Điều thần kỳ đã xảy ra: đến năm 1962, gần 95% đất nông nghiệp thuộc về nông trường hoặc hợp tác xã – đạt tiêu chuẩn ý thức hệ cộng sản mà Liên Xô yêu cầu.

    Trong cả khối Đông Âu theo kinh tế kế hoạch hóa có mỗi Hungary đạt mục tiêu sản xuất lương thực vượt mức kế hoạch.

    Ai đang muốn đưa Chủ nghĩa Toàn trị trở lại?
    Ngày Liên Xô đàn áp Mùa xuân Prague 1968
    Mùa xuân Prague và cuộc đàn áp đẫm máu
    Giám mục Ba Lan: ‘hãy để yên người quá cố’

    Sang thập niên 1960, Kadar xin phép Khrushchev cho ‘giải thể nốt di sản Stalin’.

    Liên Xô đồng ý rút cố vấn ngồi đầy trong các bộ ngành của Hungary từ 1956 về nước.

    Sang giai đoạn 1961-62, Hungary còn không coi thẻ đảng viên cộng sản là ‘bùa chú’: chuyên gia ngoài đảng viên vẫn có thể giữ chức trong bộ máy.

    Cùng lúc, để chứng tỏ ông rất ‘vì dân’, Kadar loại khỏi Đảng những kẻ cơ hội, cầm thẻ đảng để có chức quyền, lợi ích.

    Kadar đã đi trước Đặng Tiểu Bình nhiều năm về chính sách thực tiễn.

    Còn Việt Nam phải gần đây mới dám mời chuyên viên có mác ngoại, không đảng viên cộng sản vào Ban tư vấn hay Tổ tư vấn cho thủ tướng.

    Những thứ đó, Kadar đã làm từ năm 1962.

    So với quốc gia cũng trải qua quá trình tương tự là Ba Lan thì cải cách của Janos Kadar thành công hơn.

    Tại Ba Lan, TBT Edward Gierek lên cầm quyền cũng với tinh thần cởi mở, xóa bỏ di sản của thời Stalin và mở cửa trong phạm vi có thể với Phương Tây.

    Image caption Lễ thượng cờ trước nhà Quốc hội Hungary ở Budapest: Sau năm 1989, Hungary trở lại với các giá trị dân tộc Ba Lan cho các công ty Tây Âu vào đầu tư, cho nhập thuốc lá Mỹ, máy cày Anh và dụng cụ công nghiệp từ Pháp, Đức, bằng chính tiền đi vay.

    Khi Gierek lên nắm quyền năm 1970, Ba Lan có khoản nợ nước ngoài vỏn vẹn 1 tỷ USD.

    Khi ông rời vị trí năm 1980, Ba Lan đã nợ 20 tỷ USD, và đến 1989, nợ và lãi suất lên 40 tỷ USD, bằng 77 tỷ theo thời giá năm 2011.

    Ba Lan và bài học cải tổ chính trị hậu cộng sản
    Khi Tổng Bí thư Đảng CS được dân mến
    Ba Lan muốn xóa hết tên tuổi ‘cộng sản’
    Nữ bác sĩ Hungary ‘làm bạn’ với Kim Nhật Thành

    Mất dần ánh hào quang

    Nhưng Hungary cũng mắc nợ Phương Tây dù không nhiều bằng Ba Lan, và đây là vấn đề chung của một nghịch lý trong khối XHCN Đông Âu.

    Chính vì không đến từ bầu cử dân chủ, chính quyền Hungary và cả Ba Lan, Tiệp Khắc đều phải làm một lúc hai việc trái ngược nhau:

    • Một mặt, họ thỏa thuận ngầm với người dân rằng tính chính danh của Đảng đến từ mức sống ngày càng nâng cao của dân. CHXH không hấp dẫn nếu dân sống nghèo;
    • Mặt khác, để kinh tế phát triển, họ phải vay tiền từ Phương Tây và nhập khẩu công nghệ để tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, vì công nghệ lạc hậu thì không thể nào xuất khẩu hàng hóa có lãi;

    Như New York Time viết năm 1983 về Hungary:

    “Chính quyền tin rằng để nắm quyền lực, họ phải đem lại cuộc sống tốt hơn, và điều đó cũng có nghĩa là dân chúng chấp nhận im lặng để đổi lấy điều kiện sống ngày càng tiến bộ và cùng lúc Liên Xô chấp nhận con đường ít nhiều độc lập của Hungary cũng để không phải lặp lại sự kiện năm 1956.”

    20 năm sau, mô thức này lỗi mốt mà Đảng CS vẫn cố kiểm soát tư tưởng để phòng ngừa thách thức có thật hoặc tưởng tượng từ nhiều phía.

    Điều này liên tục làm giới trẻ và trí thức không hài lòng.

    Sang nửa sau thập niên 1970, chủ nghĩa Kadar từng đem lại mức sống cao cho dân Hungary mất đi ánh hào quang.

    Hungary bước vào giai đoạn trì trệ trong thập niên 1980 dù vẫn để lại các hình ảnh rất hào nhoáng mà tôi tận mắt chứng kiến năm 1990.

    Ngày nay nhìn lại, như Dan Payne viết trên BBC News, không ít người Hungary tin rằng ‘tội ác’ to nhất của Janos Kakar là tạo ra một hệ thống không dám nói thật cho người dân về thực chất cuộc chơi nghịch lý của ông.

    “Người ta được thuyết phục là vừa giữ nguyên miếng bánh vừa có thể ăn nó thoải mái. Không ai cần phải lo âu về các khoản nợ, vốn chỉ tăng thêm nhờ lương hưu hào phóng thời cộng sản.”

    Nhưng kinh tế thì không thể tăng trưởng mãi khi mà kỳ vọng không có cơ sở vẫn được bộ máy tuyên truyền nuôi dưỡng.

    Bản quyền hình ảnh Getty Images Image caption Chủ nghĩa cộng sản há cảo tại TQ: vai trò của ý thức hệ giảm đi nhiều và người ta cần có cuộc sống hiện đại, sung túc

    Nhiều tên gọi khác nhau

    Chống tham nhũng là ‘tự ta đánh ta’?
    Hậu Cộng sản – cuộc chuyển đổi ‘chưa có điểm kết’
    TBT Trọng: ‘Cách mạng Tháng 10 mãi ngời sáng’
    Đôi nét Cuba nhân chuyến thăm của TBT Nguyễn Phú Trọng

    Mô hình xã hội chủ nghĩa đã có nhiều tên gọi khác nhau.

    Tại khu vực do Liên Xô kiểm soát, đó là chủ nghĩa xã hội hiện thực.

    Còn ở Tây Âu, sau Mùa Xuân Praha 1968, xu hướng không theo Moscow nữa phát triển, có tên chung là ‘Eurocommunism‘.

    Còn gọi là ‘chủ nghĩa cộng sản cải tổ‘, ý tưởng chính là hợp tác với cả trí thức, doanh nhân chứ không chỉ nhắm vào công nông.

    Sau này, nhiều cơ sở của cộng sản châu Âu chấp nhận đấu tranh nghị trường để thành phái dân chủ xã hội (socialdemocrats).

    Nhưng chủ nghĩa cộng sản goulash, hay chủ nghĩa cộng sản Trabant (tên chiếc xe của Đông Đức) là những biến thể đặc thù của Đông Âu.

    Sau này, thuyết ‘Mèo đen mèo trắng’ của Đặng Tiểu Bình, thuyết Ba đại diện của Giang Trạch Dân, và cả ‘CHXH hài hòa’ của Hồ Cẩm Đào cũng không có gì mới.

    Các chủ nghĩa thường đến từ một góc nhìn định trước về thế giới nên cũng không lạ nếu các xã hội có ý thức hệ cụ thể luôn phải thỏa hiệp giữa tư tưởng và thực tế.

    Câu chuyện của Hungary cho thấy xét cho cùng dù gọi tên gì thì một chủ nghĩa chỉ có sức sống nếu khiến người dân no bụng.

    Và no rồi thì người ta lại kỳ vọng những điều cao sang hơn mà đôi khi sự cứng nhắc của hệ thống không thỏa mãn được.

    Đó chính là điều vĩ đại và đơn giản của cuộc sống vốn luôn thách thức khuôn mẫu của các mô hình, bất kể tên gọi của chúng là gì.

Cách uống vodka đúng điệu kiểu Nga

“Có người ở vùng Bristol vừa bắt đầu làm một loại vodka lấy tên là Novichok,” Natasha Ward, chủ nhà tổ chức bữa tụ tập gặp mặt của chúng tôi nói, trong câu nói bà nhắc tới thứ chất độc thần kinh khét tiếng của Nga. “Và ngay lập tức họ được bảo: ‘Hãy dừng ngay lại!’.”

Ward vừa cười vừa dọn bàn, chuẩn bị bày biện cho buổi tụ tập tại gia ở Nam London, với các món ta thường gặp trong một bữa tiệc đãi khách thông thường.

‘Phép thuật’ khiến champagne sủi bọt

Đừng bao giờ uống whisky Scotch với đá

Pulque: ‘Rượu của các vị thần Aztec’

“Chúng ta sẽ bắt đầu với món cá trích muối, không phải cá trích ngâm dấm – người Anh ghét củ cải đường vì họ toàn phải ăn nó ở dạng ngâm dấm rất kinh, còn món cá trích cuộn thì trông như xác chết, ai cũng biết rồi đấy.”

Ward rất tinh thông khéo léo trong việc chuyển đổi qua lại giữa các nền văn hóa. Bà có một nửa dòng máu là người Nga, nửa là người Anh, và đã từng làm công tác phiên dịch rất đa dạng, từ phục vụ cho Liên Hợp Quốc cho tới Angelina Jolie và Mikhail Gorbachev.

Hôm nay, bà sẽ giải thích cho chúng tôi đích xác lý do tại sao người Nga lại hít bánh mì khi uống vodka.

Nhiệm vụ giải thích này không hẳn là một việc thú vị gì, nhưng rất quan trọng, bởi nó sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về đời sống Nga vào lúc thế giới đang rất thiếu vắng cái nhìn hiểu biết sâu sắc đối với văn hoá Nga, cũng thiếu cả sự cảm thông chia sẻ thực lòng với Nga.
Jonny Donovan                                                    Phong tục truyền thống hít bánh mì khi uống vodka
                                                    khiến ta biết về những nét thực tế của đời sống Nga

Với các nhà quan sát salon thì quan hệ giữa Nga và phương Tây hiện có vẻ lạnh lẽo tới mức châm biếm; tầng sương giá lạnh lẽo thời Chiến tranh Lạnh bao trùm trong các tường thuật thời sự gần đây về việc Nga và Mỹ rút khỏi hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, về vụ điệp viên Sergei Skripal cùng con gái Yulia Skipal bị đầu độc bằng chất độc Novichok tại Salisbury, Anh Quốc, và tất nhiên là cả về chuyện World Cup 2018 tổ chức ở Nga.

Những điều bạn chưa biết về bia

Điều kỳ diệu ẩn chứa trong một cốc bia

Thị trấn Pháp nơi người ta thả chai rượu xuống biển

“Chúng tôi thấy vui khi đội bóng đá Nga cuối cùng đã thua,” bà Anna Ivanov nói, trong khi ông chồng Misha thì nhún vai.

Anna và Misha là cha mẹ của Helena Bayliss – bạn thân của Ward; Hai vợ chồng ông bà chuyển từ Nga đến đây được 20 năm, khi con gái họ Helena Bayliss lấy chồng người Anh. “Chứ nếu đội Nga thắng, bầu không khí sẽ nóng hừng hực trên truyền thông. Cứ ra rả suốt!”

“Bây giờ thì,” bà Ward nói, “ta bắt đầu với loại vodka nào nhỉ?”

Màn chọn rượu vodka luôn ấn tượng, trước giờ vẫn vậy. Rốt cuộc thì bởi nước Nga là nơi sinh ra nhà hóa học Dmitri Mendeleev, người đã tạo ra Bảng Tuần hoàn Nguyên tố Hoá học và cũng được cho là người đã hoàn thiện công thức rằng vodka phải đạt nghiêm ngặt chuẩn 40% độ cồn (câu chuyện này được kể khá phổ biến, cũng là một chuyện tiếu lâm).

Ward đưa ra thứ rượu vodka pertsovka bốc lửa được làm từ ớt, vodka Nga nguyên chất – loại rượu vodka do công ty mới của diễn viên Hollywood Dan Aykroyd sản xuất tại Newfoundland kết hợp với rượu vodka chanh tự làm thủ công.

“Thứ này thực sự là cồn y tế, nồng độ tới 95%,” bà Ward nói một cách đơn giản, “rồi ta thêm nước vào, nửa nước nửa rượu, rồi thêm chanh nữa.”

Nói cách khác, nó là ‘rượu lậu’? “Không phải, nếu là rượu tự nấu, chúng tôi phải có nồi chưng cất.” Bayliss cười. “Natasha, cô thất vọng rồi phải không!”

Nhóm chúng tôi tụ tập vì hai lý do: thứ nhất, để tận hưởng những phút giây vui vẻ; và thứ hai, để uống vodka theo đúng nghi lễ truyền thống của Nga – một truyền thống được gìn giữ theo thời gian mà theo đó những tay sành sỏi phải hít bánh mì khi uống rượu mới là đúng kiểu.

Để bắt đầu, cả vodka lẫn ly uống đều được lấy ra từ tủ lạnh, và Bayliss nêu ra các quy tắc cốt yếu khi uống vodka theo kiểu Nga.

“Rượu vodka cần để lạnh, ly phải nhỏ xíu và phải có thứ gì đó mằn mặn, hoặc bánh mì lúa mạch đen, để nhấm nháp sau đó,” cô nói.

“Uống vodka xong rồi ăn miếng bánh kem chẳng hạn, là hỏng bét.”

“Mà,” Ward nói thêm, “không dùng kèm bất kỳ gì sau đó thì cũng không ổn!”

Rượu đương nhiên là phải ướp thật lạnh; như vậy lúc rượu đi qua cổ họng sẽ êm hơn. “Vodka không phải là thứ để bạn nhấp từng ngụm để thưởng thức hương vị,” Bayliss nói.

Vậy tại sao mọi người uống vodka? Mẹ của Bayliss cười. “Là bởi sau đó ta sẽ có cảm giác nóng toàn thân!”

Cảm giác nóng khắp người chính là cảm giác đầu tiên của tôi khi lần đầu thực hiện nghi thức hít bánh mì Nga.

Bà Ward là mẹ của Marsha, bạn thân của tôi.

Có nên ‘ăn sáng như hoàng đế’?

Ăn nhạt có hại bằng ăn quá mặn không?

Làm thế nào để tách caffeine khỏi cà phê

Thời còn là những đứa trẻ ngang bướng, Marsha và tôi rất thích tham dự các buổi tụ tập mà bà tổ chức sau mỗi chuyến đi công tác từ Nga về, bàn ăn có rượu mang từ nước ngoài về, dưa muối chua và bánh mì đen.

Chúng tôi thích nhìn bà Ward và những vị khách cười nói, kể những giai thoại dị thường khó tin, và quan trọng nhất là được nhấm nháp đồ ăn nhẹ ngay sau khi uống cạn những ly vodka.

Lúc những vị khách đã nhấm nháp tương đối đủ đồ ăn – nhưng bánh mì vẫn tiếp tục được nướng – thì họ sẽ hít bánh mì sau khi uống vodka, thay vì ăn nó. Chúng tôi đã rất kinh ngạc trước cảnh đó.

Hai thập kỷ sau, tôi lại bắt gặp nghi thức này trên một chương trình truyền hình được chiếu trong “giờ vàng”. Trong một tập của loạt phim House of Cards phát trên Netflix, tổng thống Nga ăn tối với tổng thống Mỹ và trình diễn cách uống vodka kiểu Nga – chỉ hít ngửi bánh mì.

Đó là một cảnh phức tạp, nặng tính trình diễn trong chương trình truyền hình chứ không hẳn là đúng như trong thực tế (“Chả ai làm thế với khách sang cả!” bà Ward la lên), nhưng khán giả nghe rõ âm thanh hít thở mạnh.

Các bài báo bình luận về tập phim thì cho rằng hít bánh mì để hả bớt hơi rượu và làm cân bằng vị vodka, trong khi muối và axit trong món dưa chua của Nga – giống như món dưa mà bà Ward bày trên bàn ăn – thì giúp trung hòa rượu.
Jonny Donovan                            “Rượu vodka cần để lạnh, ly phải nhỏ xíu và phải có đồ mồi mằn mặn để nhắm”

Nhưng theo Ward và bạn bè của bà thì nghi thức hít bánh mì không chỉ đơn thuần là để chống say rượu mà còn có tác dụng giao tiếp xã hội; bằng cách ăn hoặc ngửi bánh mì sau khi uống vodka, bạn chứng tỏ rằng bạn uống vodka đâu phải để say mèm.

Quê hương Stalin đối phó mối đe dọa từ Nga

Cộng sản, Bạch vệ và kho báu Sa Hoàng

Cộng sản, Sa hoàng, cướp biển Viking và nước Nga

“Nếu không có thứ gì để nhắm cùng vodka, như một miếng bánh mì mặn hoặc một ít cá trích, hoặc, hay hơn cả, là trứng cá muối, thì bạn hãy hít ngửi”, Bayliss nói. “Điều đó mang ý nghĩa biểu tượng.”

Ward đồng ý: “Việc hít ngửi chỉ xảy ra nếu bạn quá nghèo, không có thức nhắm thích hợp.” Hoặc tất nhiên là khi bạn đã quá no rồi. Thật vậy, nếu bạn chỉ có một ít bánh mì cho buổi tụ tập, thì bạn sẽ chuyền nó quanh bàn để mỗi vị khách có thể lần lượt hít ngửi nó.

Nhưng nếu thậm chí không có cả bánh mì? “Bạn hãy hít ngửi tay áo!”

Thế là chúng tôi uống lượt vodka đầu tiên của bữa tiệc: Misha lịch lãm nâng ly chúc mừng, vodka lạnh băng trượt êm dịu xuống và chúng tôi nhắm kèm với miếng bánh mì đen lớn phết bơ. Nhiều lượt uống nối tiếp, vô cùng hoan hỉ, mỗi người chúng tôi xé một mẩu bánh mì và hít ngửi ngon lành.

Có những quy tắc kiên định về cách thức uống vodka ở Nga. Nhưng một điều quan trọng không kém là lý do để uống vodka. Ở Nga, uống vodka là một hoạt động xã hội tuyệt vời; các bữa tiệc của người Nga diễn ra xung quanh bàn ăn, và uống rượu nên là một hoạt động nhóm, chả vui thú gì khi uống một mình.

Các món ăn nhẹ (zakuski) bày sẵn trên bàn tiệc là để cùng chia sẻ cho tất cả mọi người, và bạn phải tự lấy mà dùng, không chờ đợi để được mời mọc phục vụ. Bà Ward thậm chí còn chia sẻ một giai thoại của Nga về hai điệp viên Mỹ uống vodka; vỏ bọc của họ bị thổi bay chỉ vì thực tế họ đã uống mà không nhấm nháp zakuski.

Sau đó, đến tiết mục nói những lời chúc tụng. Misha có vẻ phấn khích và nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc chúc tụng. “Khi uống, bạn cần phải chuyện!” ông nói. “Không giống như ở Anh, nơi mọi người ngồi im một góc. Chúng ta ngồi với nhau cơ mà! Vì vậy, cần phải có một cái gì đó cho tất cả mọi người cùng làm. Điều đó giúp mọi người cảm thấy rằng họ là một nhóm đoàn kết.”

Ở nước cộng hòa Georgia thuộc Liên Xô cũ, nghi thức phát biểu những lời chúc mừng là những công việc phải chuẩn bị kỹ lưỡng, đến mức phải thuê các công ty chuyên nghiệp thực hiện.

Ngược lại, cách thể hiện chúc mừng của người Nga rất đơn giản – chỉ cần có ý tưởng là được. Ngày hôm đó, những lời chúc mừng nhiệt thành đã được tung hô trong cuộc gặp gỡ của chúng tôi, chúc mừng những người phụ nữ xinh đẹp trong bữa tiệc và chúc mừng vì sức khỏe của Nữ hoàng Anh.

Misha bắt nhịp các lời chúc và mọi người hô theo “hãy lên đường”, giống như nhà du hành vũ trụ Yuri Gagarin đã hô khi tàu của ông được phóng lên năm 1961.

Rõ ràng, người Nga có một niềm say mê sâu sắc với vodka. Ngay cả tên của thức uống này cũng rất đáng yêu – ‘voda’ có nghĩa là nước, và vodka là rút gọn của ‘tiểu thuỷ’, nàng nước bé nhỏ.

Nhưng uống vodka ở Nga cũng có mặt tiêu cực. Trong lịch sử, nạn nghiện rượu lan tràn ở Nga, và vodka (hoặc bất cứ thứ gì bạn có trong tay) đã trở thành một lối thoát tiêu cực khỏi sự khắc nghiệt của cuộc sống hàng ngày. “Như là địa ngục ở Liên Xô vậy,” bà Ward nói.
Jonny Donovan                                                        Các vị khách dự bữa tiệc Nga được khuyến khích
tự nhiên nhấm nháp đồ ăn nhẹ giữa các lần uống vodka

Thật vậy, trước khi Bayliss lấy chồng người Anh rồi Misha và Anna chuyển đến Anh để sống cùng cô, Misha làm công việc mang tính “mật” khiến ông không được ra khỏi nước Nga.

Thứ ‘nước thần’ giải say rượu ở Thổ Nhĩ Kỳ

Để đối phó với cơn đau đầu do say rượu bí tỉ

“Chúng tôi đã quen với cách sống này, dù rằng không phải là ổn,” Misha nói về cuộc sống của họ ở Nga thời Liên Xô. “Chúng tôi thường xuyên nghe đài BBC, đài Tiếng nói Hoa Kỳ và chúng tôi biết ở đó có một cuộc sống khác. Nhưng, bạn đã sinh ra ở đây, vì vậy bạn biết rằng bạn không thể đi bất cứ nơi nào.” Anna gật đầu đồng ý. “Điều đó giống như mơ về những điều không thể.”

Hai vợ chồng nhà Ivanov kể những câu chuyện về sự túng thiếu của người dân và đặc quyền đặc lợi của đảng mà không hề thêm bớt cường điệu hay bi kịch hoá.

“Bạn có tất cả mọi quyền, hoặc bạn không có chút quyền nào cả,” Anna nói. “Bạn cần phải đi mua rồi trả tiền cho món nào đó? Bạn sẽ thấy ngay lợi ích tác dụng của đảng. Bạn đến cửa hàng nhưng không mua được bất kỳ đôi giày nào, thế nhưng lại có cửa hàng đặc biệt dành riêng cho các quan chức của đảng và các quan chức KGB.”

Bất chấp những ký ức buồn này, vẫn còn đó sự ấm áp tuyệt vời đối với các truyền thống Nga mà chúng ta đã chia sẻ tại bàn ăn ngày hôm nay, từ hành động nâng ly cùng nhau chúc mừng cho đến kể lại những giai thoại và những trò đùa hài hước của người Nga xưa.

“Có người mang món cá trích đến dự một bữa ăn tối,” bà Ward kể chuyện vui, “khi bà chủ nhà mở chúng ra thì chúng cũ đến mức không còn ăn được nữa. Và người đã mang chúng đến nói, ‘Tôi rất xin lỗi vì quý vị đã hiểu sai – đây không phải là cá để ăn, mà là để biếu!”
Jonny Donovan                                Theo truyền thống của người Nga, mọi người phải trò chuyện trong khi uống

Đã đến lúc cho một màn chúc tụng khác, và Misha đứng lên phát biểu trang trọng – những lời này dành tặng những người bạn vắng mặt.

Rượu vodka được nâng lên uống, những mẩu bánh mì được cầm lên ăn và nĩa xiên vào cá mặn. Mọi người quanh bàn tiệc đều đỏ hồng đôi má và lấy làm mãn nguyện.

Khi trời chiều chuyển sang chạng vạng tối, Misha nhận xét một cách nghiêm túc: “Vodka giống như một con dao. Nó không tốt nhưng nó cũng chẳng tồi. Bạn có thể làm bất cứ điều gì với một con dao. Cắt thịt, cắt bánh mì – mà với một con dao chuyên dụng thì bạn có thể thực hiện ca phẫu thuật. Nhưng một con dao cũng có thể giết người; đâu thể đổ lỗi cho con dao.”

Ông ngưng một chút. “Vodka cũng vậy thôi. Đó là một loại thức uống, không xấu và cũng chẳng tốt. Nếu bạn biết, hẳn bạn sẽ phân biệt được. Tất cả đều sẽ ổn.”

Câu chuyện “ông Putin săn hổ” ….. nhận giải tin tức giả

Nguoiduatin

Tại buổi lễ trao giải Bobards d’Or (Trò chơi khăm Vàng) ở Paris, do Quỹ Polemia tổ chức, một số câu chuyện tin tức giả mạo lố bịch nhất trong những năm qua đã được vinh danh với tượng vàng được mô phỏng theo giải Oscar. Tuy nhiên, tượng vàng này lại là Pinocchio – tôn vinh những tin tức dối trá.

Tiêu điểm - Câu chuyện 'ông Putin săn hổ' giúp kênh truyền hình Pháp 'vinh dự' nhận giải tin tức giả

Giải thưởng được trao cho 3 hạng mục: “Trò chơi khăm truyền thống” cho các câu chuyện nội bộ của Pháp, “Trò chơi khăm quốc tế” cho các câu chuyện về các vấn đề đối ngoại, “Trò chơi khăm Ao vàng” – cho cách mà các phương tiện truyền thông phản ánh với cuộc biểu tình gần đây ở quốc gia này.

Một trong những người biểu tình Áo vàng là Fiorina Lignier, người đã mất một mắt do lực đạn của cảnh sát, thậm chí còn được mời làm một trong những giám khảo.

Trong số 15 ứng cử viên ban đầu, cuối cùng các giám khảo đã chọn ra các hạng mục chiến thắng. Tin tức được vinh danh cho “Trò chơi khăm quốc tế” là một câu chuyện liên quan đến Nga. Trong trường hợp cụ thể này, Nga không bị buộc tội bịa đặt tin tức giả mạo, mà lại được minh oan là nạn nhân.

Tượng Pinocchio vàng dành cho bản tin do kênh truyền hình France 2 phát hành vào tháng 8/2018 về thói quen nghỉ mát xa hoa của các nhà lãnh đạo thế giới, trong đó kênh truyền hình này cho rằng ông Putin đã từng đi săn hổ.

Thậm chí bản tin còn cung cấp hình ảnh nhà lãnh đạo Nga ngồi cạnh con hổ bất động nằm dài trên đất như thể đang tự hào về chiến lợi phẩm.

Ngoại trừ việc hình ảnh là có thật, mọi thông tin còn lại đều sai hoàn toàn. Những hình ảnh này được lấy từ một báo cáo năm 2008 về một chương trình bảo tồn hổ quốc gia và Tổng thống Vladimir Putin đang làm điều ngược lại với việc giết chết một loài động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng. Trên thực tế, nhà lãnh đạo Nga chỉ đang đặt vòng đeo cổ theo dõi GPS lên con vật trong nỗ lực bảo vệ loài vật quý hiếm.

Khi nhận được báo cáo về sai sót của mình, kênh truyền hình France 2 đã ngay lập tức rút bỏ bản tin ra khỏi trang web. Dẫu vậy, đại diện của France 2 vẫn chống chế cho rằng đây không phải là tin giả mà là “lỗi vô ý”.

Cách giải thích này ngay sau đó đã vấp phải sự chế giễu của nhiều cư dân mạng. Cựu ứng viên tổng thống Pháp Jean-Luc Melenchon gọi câu chuyện của France 2 là “chiến dịch tuyên truyền chống Nga thô thiển, do một nhóm giả mạo khuấy động”.

More reading

Từ Dinh Độc Lập 1969 Tới Ngôi Nhà Ngoại Ô London Sau 1975

Viet Bao

Nguyễn Tiến Hưng, tác giả cuốn “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu,” nói chuyện với các bạn hải quân tại nhà hàng Paracel, Little Saigon về những điều chưa thể viết trong sách.

 

NTH_voi Hai Quan VNCH

Ngày 28/1/1969 – vừa lên ngôi, TT Richard Nixon đã nhóm họp ngay với Hội đồng An ninh Quốc gia nới rộng để bàn về Việt Nam. 

Tướng Andrew Goodpaster, Phó của Đại tướng Creighton Abrams trình lên tổng thống: “Quân đội Việt Nam Cộng hòa đã không ngừng cải thiện, và thời điểm mà ‘De-Americanization” – vai trò của quân đội Mỹ có thể được thu hep lại thì đã cận kề.” Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird đồng ý với quan điểm này, nhưng không đồng ý với ngôn từ ‘De- Americanization.” “Điều chúng tôi cần là một thuật ngữ như “Vietnamization” (‘Việt Nam hóa’ chiến tranh) để nhấn mạnh vào vấn đề chính yếu là giúp cho Miền Nam có đủ khả năng để tự bảo vệ. TT Nixon đồng ý ngay và tuyên bố chương trình này tại cuộc họp đầu tiên giữa hai Tổng thống Nixon và Thiệu tại đảo Midway vào ngày 8/6/1969.

Chỉ 5 tháng sau, chương trình này được khởi sự với Hải Quân VNCH. Và từ đó, Hải Quân đã phát triển rất mạnh và mau chóng:

1969: Mỹ chuyển giao 80 tầu tuần giang. Ngay lập tức Hải Quân tiếp thu toàn bộ chiến dịch tuần tra, kiểm soát sông ngòi của lãnh thổ.

1971: tiếp nhận công tác tuần tra vùng Duyên Hải và trên biển;

1972: tiếp thu và quản lý toàn bộ 16 đài kiểm thính (radar) duyên hải để chấm dứt hoàn toàn hoạt động của Hải quân Mỹ.

1973: VNCH đã hoàn tất chương trình bành trướng Hải Quân lên đến quân số trên 40,000 sĩ quan và thủy thủ.

Theo như sự đánh giá của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu – chính vì sự giúp đỡ tối đa của Đô Đốc Emmo Zumwalt – một người đã rất gắn bó với VNCH – cho nên Hải Quân đã trở thành một lực lượng lớn mạnh đáng kể.

Khi chúng tôi viết cuốn ‘Tâm Tư Tổng Thống Thiệu’, nhà tôi đã khuyên tôi nên viết một chương về Hải Quân nhưng sách đã dài trên 700 trang, không thể thêm vào được. Cho nên trong bài này chúng tôi xin nhắc lại một số sự kiện lịch sử liên hệ:

– Chỉ trong vòng 5 năm, với 64,200 vật liệu và phụ tùng đã được lưu trữ tại trung ương và các cơ xưởng của Hải Quân để sửa chữa và bảo trì cho 1,429 tầu chiến gồm 13 loại lớn nhỏ – từ Khu Trục Hạm, Tuần Dương Hạm tới Dương Vận Hạm, Xà Lan chở dầu. Hệ thống tiếp liệu của Hải Quân VNCH được Bộ Quốc Phòng Mỹ đánh giá là lớn lao nhất và hiệu quả nhất Đông Nam Á.

Để có một ý niệm về hệ thống này phức tạp như thế nào, ta có thể so sánh nó với HOME DEPOT. Khi ta vào đây mua sắm vật liệu thì thấy như vào cái rừng, nhiều khi vợ chồng còn đi lạc nhau. Tuy nhiên HOME DEPOT cũng chỉ lưu trữ từ 30,000 tới 38,000 vật liệu so sánh với trên 64,000 của Hải Quân VNCH.

Hệ thống tiếp liệu của Không Quân và Lục Quân thì lớn hơn nhiều: 192,000 và 127,000 nhưng đa số được lưu trữ ở ngoại quốc. Khi máy bay khu trục cần sửa chữa tới ‘cấp 4’ (rigging operation) thì phải đưa sang Đài Loan. Trái lại, Hải Quân có đủ vật liệu và kỹ thuật để sửa chữa chiến hạm ngay trong nước.

-Hải Quân giữ một nhiệm vụ quan trọng trong việc bảo vệ an ninh đường thủy, đóng góp rất lớn cho nền kinh tế miền Nam, vì lúa gạo, đường, gia súc, tôm cá, các nhu yếu phẩm hầu hết được đưa về cảng và các kênh ở Sài Gòn và các tỉnh bằng đường sông rạch chằng chịt tại đồng bằng châu thổ Cửu Long, vì đường bộ thiếu an ninh lại bị tắc nghẽn ở Phà Mỹ Thuận. Phà này phải đi qua khúc sông Cửu Long dài tới nửa cây số.

hinh-22

Dinh Độc Lập: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tiếp sứ giả Hoa Kỳ. Phía bìa trái là Tổng trưởng Kế Hoạch Nguyễn Tiến Hưng.

Cầu Mỹ Thuận mà Mỹ không thuận!

Nơi đây chúng tôi xin kể lại một câu chuyện bên lề về Phà Mỹ Thuận: một hôm chúng tôi họp với Bộ Công Chánh để tìm hiểu tại sao chính phủ đã có dự án xây một cây cầu ở Mỹ Thuận từ mấy năm rồi mà chưa xây để khai thông hệ thống chuyển vận đường bộ? Các chuyên gia trả lời là vì nhiều lý do như tình hình an ninh khó khăn (dễ bị gài mìn trên sông), chưa đủ chuyên gia kỹ thuật…

Sau cùng một thanh niên rất trẻ đứng lên phát biểu: “Dạ thưa ông: cái cầu tên là Mỹ Thuận nhưng Mỹ chưa bao giờ thuận nên không xây được.” Câu nói của thanh niên này đã tóm gọn tình trạng phải lệ thuộc vào Hoa Kỳ không những về quân sự mà còn về kinh tế của Miền Nam trong thời gian chiến tranh: vì cuộc chiến kéo dài từ 1945 nên đã không cho phép sản xuất, phát triển.

– Sau Hiệp Định Paris, TT Thiệu đã chỉ thị cho chúng tôi qua Mỹ để yêu cầu Hoa Kỳ thay thế cho HQVN những chiến hạm đã quá cũ kỹ theo điều khoản “một đổi một” của Hiệp Định Paris. Ông đặc biệt nhấn mạnh tới chiến hạm thuộc loại chuyển vận như Dương Vận Hạm – LST (Landing Ship Tank), nhưng không thành công vì Hiệp Định này chỉ cho phép “một đổi một” về phẩm chất: không được thay cũ đổi mới.

TT Thiệu nói: sở dĩ cần ngay LST vì một phần là để giúp chuyển quân thay cho trực thăng vì mô hình Việt Nam hóa vẫn đặt nặng hai yếu tố “Mobility và Fire Power” – di động tính và hỏa lực.

‘Mobility’ thì luôn cần trực thăng mà bây giờ nhiều chiếc phải nằm ụ vì thiếu phụ tùng.

Cho nên cần có LST thật tốt để hay thế một phần. VNCH chỉ có 5 cái: HQ 500 tới HQ 505.

Vai trò của LST quan trọng như thế nào thì đã phản ảnh vào những ngày tháng cuối cùng:

Tháng 3/1975 Trung tướng Ngô Quang Trưởng rất lo ngại về cái chốt nguy hiểm ở đèo Hải Vân:

QL 1A đi từ Huế tới Đà Nẵng dài 95 cây số và phải qua đèo Hải Vân. Đèo này nằm trên dẫy núi dài tới 21 cây số. Rồi qua Cửa Tư Hiền rất khó khăn: nơi thông đầm Cầu Hai với Biển Đông.

Cho nên Tướng Trưởng chỉ trông nhờ vào cảng Tân Mỹ ở đầu nguồn Sông Hương. Chúng tôi biết được chuyện này vì trong một báo cáo cho TT Thiệu, qua tài liệu của tình báo Mỹ thì: ba sư đoàn VNCH ở Huế và lân cận có thể bị rơi vào cạm bẫy của quân đôi Bắc Việt vì – ngoài Phi Trường Phú Bài thì chỉ còn cái cảng nông cạn, sình lầy là cảng Tân Mỹ để rút lui: “Sáu Sư đoàn Bắc Việt ở phía Bắc và ba SĐ ở khu vực Quảng Trị-Thừa Thiên, tổng cộng là 9 SĐ sẽ có thể đánh bại 3 SĐ VNCH nội trong trong mấy ngày.”

hinh-2

Và ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô Luân Đôn, nơi Ông Thiệu tiết lộ kế hoạch sau cùng.

Sau cùng thì cái gì đã xảy ra?

Trên đường rút từ Huế: Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến 147 rút về cảng Tân Mỹ để được LST của Hải quân chuyển đi. Nhưng căn cứ này đã sớm bị tràn ngập thường dân tìm cách di tản, cho nên sau cùng LST chỉ có thể vào gần bờ vài trăm feet, bắt buộc TQLC phải bơi ra tàu, cuối cùng chỉ có khoảng 600 trong số 3000 TQLC được chuyển vận tới Đà Nẵng.

– Trở lại Hiệp Định Paris, một điểm quan trọng cần được ghi lại cho lịch sử: đó là về việc di chuyển quân: Hải Quân và chỉ có Hải Quân là không bị trói tay bởi Hiệp Định Paris. Hiệp Định này được gọi là “Hiệp Định Da Beo:” cho phép bộ đội Bắc Việt đóng lại Miền Nam ở rải rác khắp nơi như những đốm da beo trên bản đồ. Cho nên Không Quân bị ngăn chận không được bay qua và Bộ Binh không được vận chuyển qua những khu vực này.

Trái lại, trên mặt biển thì không có đốm da beo nào (cho tới trận Hoàng Sa) cho nên Hải Quân đã hoàn toàn làm chủ đại dương cho tới ngày cuối cùng.

-TT Thiệu đã có tầm nhìn xa về Biển Đông: sau khi mất Hoàng Sa ông đã nghi ngại Trung Cộng sẽ tiếp tục xâm chiếm lãnh thổ hải đảo và sẽ đưa tầu chiến vào Trường Sa, nên đã điều thêm chiến hạm HQVN ra phòng thủ Trường Sa với bất cứ giá nào.

Đây là vấn đề quân sự, nhưng lúc ấy vì một tình cờ chúng tôi mới biết chuyện này, đó là khi gặp Tướng John Murray (chỉ huy cơ quan DAO Bộ Quốc Phòng Mỹ ở Sài gòn) để cập nhật ngân sách viện trợ (là lãnh vực của chúng tôi) thì có cả vấn đề tiết giảm chi tiêu quân sự, gồm cả Hải Quân. Ông Murray nói tới khuyến nghị của ông đối với chi tiêu của Hải Quân và cho biết ông đã đề nghị Bộ Tổng Tham Mưu rút hết các chiến hạm khỏi Trường sa và đóng cửa một số cơ sở bảo trì của Hải Quân:

Căn cứ yểm trợ hành quân ở Cần thơ;

Hai căn cứ yểm trợ hành quân tại Vĩnh Long, và Long Phú;

Hai căn cứ sửa tầu ở Cửu Long và Cần Thơ; và

Hai căn cứ yểm trợ nhanh ở Chợ Mới và Thuận An.”

Tôi hỏi tại sao nên rút chiến hạm khỏi Trường Sa? Ông trả lời là vì hai lý do: thứ nhất, nguyên tiền xăng nhớt cho hai chiến hạm ở đây đã tốn tới nửa triệu đôla một năm; và thứ hai: thả neo ở Trường Sa là không cần thiết vì “Hải Quân của Bắc Việt không thể nào vào tới tận Trường Sa.”

Tôi báo cáo lại với TT Thiệu, ông nói: “Bắc Việt không thể nào vào tới Trường Sa nhưng sau Hoàng Sa, Trung Cộng sẽ ngừng để nghỉ ngơi, tái phối trí rồi sẽ tiến thẳng vào Trường Sa.”

Ông cho biết đã ra lệnh không những tiếp tục bảo vệ mà còn tăng cường nếu cần thiết. Theo sự suy nghĩ của chúng tôi, sở dĩ ông nhất quyết như vậy – dù đã sắp cạn tiền mua xăng – một phần cũng vì ông cho rằng phải bảo vệ kho tàng dầu lửa. Lúc ấy, tin tức về khai thác thành công dầu lửa ở Trường Sa đang rộ lên.

-Với sự bảo vệ an ninh của các chiến hạm HQVN, các giếng dầu hoạt động ngoài khơi Biển Đông đã có dấu hiệu có thể xuất cảng dầu thô, chỉ trong vài ba năm đã có thể lên tới 1 tỷ dollars mỗi năm, một triển vọng cho miền nam trù phú có thể tự lực, tự cường mà không còn phải nhờ vả vào viện trợ Hoa Kỳ nữa..

-Trong trận Mùa Hè Đỏ Lửa, TT Thiệu đã dự trù cho 1 sư đoàn Bộ Binh đổ bộ ra Vinh bằng các chiến hạm HQVN, làm nghi binh để cho bộ đội Bắc Việt phải rút về phòng thủ.

– Về trận Hoàng Sa 19/1/1974, TT Thiệu đã ra lệnh trực tiếp cho tư Lệnh Vùng I Duyên Hải Hồ Văn Kỳ Thoại mà không qua hệ thống quân giai để phản ứng nhanh chóng trong việc bảo vệ Hoàng Sa. Sau đó ông còn ra lệnh cho Không Quân dùng máy bay khu trục F5E để bay ra bắn chìm tầu của Trung Cộng. Nhưng hai phi vụ không thực hiện được vì Ngoại trưởng Henry Kissinger đã ngăn chận. Nhân chứng còn sống là Đại Tá Nguyễn Quốc Hưng, Phụ Tá Tham Mưu Phó Hành Quân, Bộ Tư Lệnh Không Quân (‘Khi Đồng Minh Nhảy Vào’ Chương 25).

– TT Thiệu tin tưởng Hải Quân sẽ đủ khả năng bảo vệ bờ biển Đà Nẵng, để Bộ Binh và Không Quân tử thủ thành phố này, nếu giữ được hai tuần lễ – như điều kiện Hoa Kỳ đã đặt ra trong một kế hoạch tối mật giúp bảo vệ Miền nam. Tuy nhiên thành phố Đà Nẵng đã thất thủ nhanh chóng vì lệch lạc hỗn loạn dẫn đến sụp đổ của chính thể VNCH. Và lịch sử cũng đã rõ là nếu VNCH có giữ được hai tuần thì Hoa Kỳ cũng đã thất hứa vì đã quyết định tháo chạy.

Ban doAAA

Hình chụp từ tấm bản đồ trong “Phòng Tình Hình” của TT Thiệu mà người viết còn giữ. Bản thu nhỏ cũ kỹ, đường nét mờ mịt. Vị trí từ Bến Lức, ranh giới dự tính cho một VNCH thu gọn về miền tây..

Vai trò Hải Quân trong kế hoạch sau cùng

Vai trò Hải Quân trong chiến lược cuối cùng: rút về Miền Tây để bảo vệ một VNCH thu gọn.

Sau này tại Luân Đôn, TT Thiệu tiết lộ về kế hoạch cuối cùng của ông là ‘cắt cầu Bến Lức, rút về Miền Tây.’ Ông nói rằng lúc ấy ông hy vọng nếu Mỹ đồng ý cho ta vay một số tiền (khoảng 1 tỷ đôla) để mua được tiếp liệu thì sẽ rút về Miền Tây để chỉ giữ một VNCH thu gọn, vì khả năng quân sự ở nơi đây còn nguyên vẹn và tình hình an ninh rất tốt. Ông giải thích là không thể nào giữ được cả bốn quân khu với một biên giới quá dài vì quân số rất ít: tuy lý thuyết là trên một triệu binh sĩ, nhưng trong thực tế, quân đội chủ lực chỉ có khoảng 130,000. Sau Đà Nẵng, số này chỉ còn vỏn vẹn 63,000. Tuy nhiên, nếu có phương tiện để gấp rút thi hành kế hoạch tái tổ chức thì vẫn có thể giữ được Miền Tây. Sau tuyến Tây Ninh – Nha Trang, tuyến cuối cùng mà ông Thiệu vẽ trên bản đồ là từ Mỏ Vẹt qua Bến Lức (xem bản đồ).

TT Thiệu cắt nghĩa là từ cầu Bến Lức, phòng tuyến mới của một VNCH thu gọn sẽ dễ bảo vệ hơn nhiều. Ranh giới chỉ còn phần giáp Cao Miên và mấy chục cây số từ Mỏ Vẹt ra tới biển.

Khúc còn lại, tức là phần lớn của biên giới thì chỉ là duyên hải. Theo sự ước tính của chúng tôi thì biên giới sẽ không phải là cả gần 700 dặm nữa mà được thu hẹp lại chỉ còn khoảng trên 130 dặm.. Phần lớn công tác biên phòng của một VNCH thu gọn sẽ được Hải Quân trấn giữ.

Cho nên, tổng kết cho lịch sử: cùng với Lục Quân (đã bảo vệ lãnh thổ cho tới tháng 1/1975 khi mất tỉnh đầu tiên trong suốt cuộc chiến mà không lấy lại được: đó là Phước Long; cùng với Không Quân (đã bảo vệ tất cả bầu trời cho thật an ninh cho tới khi bị giới hạn bởi HĐ Paris), Hải Quân VNCH có thể tự hào là đã làm tròn bổn phận đối với Tổ Quốc và Đại Dương.

Nguyễn Tiến Hưng

 

 

More reading