Victor Hugo, « vị cứu tinh » của Nhà Thờ Đức Bà Paris

RFI Đăng ngày 16-04-2019 Sửa đổi ngày 17-04-2019 17:16

 

media
Paris nhìn từ trên nóc nhà thờ Đức Bà Paris

Nhà Thờ Đức Bà Paris là một biểu tượng tôn giáo, kiến trúc, văn hóa, lịch sử của Paris và cả nước Pháp. Nhưng trong suốt 856 năm tồn tại, không phải lúc nào công trình được xây dựng từ thời Trung Cổ cũng được coi là một « viên ngọc quý » hay một « báu vật ».

Vào thời Cách Mạng Tư Sản Pháp 1789, nhất là hồi đầu thế kỷ XIX, trong tình trạng xuống cấp nặng nề, nhà thờ đã có thời bị bỏ hoang, biến thành nơi chứa đồ. Người ta thậm chí còn tính đến chuyện phá dỡ công trình để lấy những viên đá xây nhà thờ bán đi lấy tiền. Vào năm 1831, tiểu thuyết « Nhà Thờ Đức Bà Paris » của Victor Hugo ra đời và gây tiếng vang lớn, góp phần làm hồi sinh công trình vốn được xây dựng trong suốt gần 200 năm, kể từ năm 1163.

Trong tác phẩm của Victor Hugo, Nhà Thờ Đức Bà Paris hiện lên như một nhân vật sống động, lộng lẫy, huy hoàng nhưng phải chịu sự khinh miệt, bị khạc nhổ làm vấy bẩn, ô uế. Victor Hugo muốn nói tới các hành vi phá hoại và những người phục dựng nhà thờ không đúng cách, bằng cách cho thêm các chi tiết của thế kỷ XIX vào kiệt tác kiến trúc Trung Cổ theo phong cách gothique.

Sử gia Anne-Marie Thiesse, giám đốc nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Quốc Gia Pháp CNRS, giải thích trên báo Le Monde ngày 16/04/2019 là Victor Hugo đã đấu tranh kịch liệt chống các hành vi phá hoại các công trình tôn giáo, tạo động lực thúc đẩy chính quyền cho phục dựng Nhà Thờ Đức Bà Paris. Vào năm 1843, công tác cải tạo nhà thờ được khởi công dưới sự chỉ đạo của Eugène Viollet-le-Duc và kéo dài suốt 20 năm. Chính trong giai đoạn này, chóp nhọn hình mũi tên cao 93m, làm bằng gỗ sồi bọc chì, nặng 750 tấn (500 tấn gỗ sồi và 250 tấn chì), với bốn dãy tượng các tông đồ tạc bằng đồng, đã được dựng lên. Kiệt tác Trung Cổ đã hồi sinh ! Sau này, nhà thờ còn được cải tạo thêm nhiều lần.

Nhờ Victor Hugo, Nhà Thờ Đức Bà Paristrở thành « nhà thờ lớn của dân tộc »

Tại Pháp, cho đến cuối thế kỷ XVIII, thời Trung Cổ bị coi là thời kỳ tối tăm, u muội của thói mê tín dị đoan. Nhà Thờ Đức Bà Paris, công trình của thời Trung Cổ vì thế không được đánh giá cao, đặc biệt vào thời Cách Mạng Tư Sản Pháp. Nhưng theo sử gia Anne-Marie Thiesse, nhờ tác phẩm « Nhà Thờ Đức Bà Paris », vào thế kỷ XIX, người Pháp được khám phá lại công trình kiến trúc gothique, không chỉ về nét đẹp thẩm mỹ mà còn cả về góc nhìn chính trị.

Trong tiểu thuyết của Hugo, nhà thờ thành biểu tượng của tình đoàn kết dân tộc. Đại văn hào Victor Hugo đã tái hiện một xã hội Pháp với những con người thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội, từ giới quý tộc, cho đến cả những nhân vật như Esmeralda và Quasimodo vốn từng bị xã hội ruồng rẫy, gạt bỏ. Nhà Thờ Đức Bà Paris nhờ vậy làm sống lại tình đoàn kết dân tộc. Giám đốc nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Quốc Gia Pháp CNRS kết luận nhờ có Victor Hugo, Nhà Thờ Đức Bà Parisđã trở thành « nhà thờ lớn của dân tộc » Pháp.


More reading

Advertisements

Bắt Phạm Nhật Vũ để bắt tiếp con gái cựu Thủ tướng Dũng ?

Phạm Chí Dũng – VOA

Vì sao khơi lại vụ ‘MobiFone mua AVG’?

Vụ ‘MobiFone mua AVG’ tưởng như đã chính thức đóng hồ sơ vào cuối năm 2018, khi Hội nghị trung ương 9 đã chỉ ‘cách hết chức vụ’ đối với cựu bộ trưởng thông tin và truyền thông Nguyễn Bắc Son nhưng lại không đụng chạm gì đến người đồng chí cùng chiến hào và cùng chức vụ với Son là Trương Minh Tuấn. Thậm chí sau hội nghị này, Tuấn vẫn giữ nguyên được cái ghế Phó trưởng ban Tuyên giáo trung ương như một lá bùa hộ mệnh.

Trước đó, những cái tên quan chức bị ‘đóng hòm’ chỉ là giới lãnh đạo của MobiFone như Cao Duy Hải, Lê Nam Trà, Phương Anh và quan chức quản lý Phạm Đình Trọng, nhưng không hề hiện ra cái tên Phạm Nhật Vũ – lãnh đạo Công ty AVG và là em trai của tỷ phú đô la số một Việt Nam là Phạm Nhật Vượng.

Về phần mình, Phạm Nhật Vượng có vẻ đã làm những gì có thể cho em trai mình: gần 8.000 tỷ đồng cả ‘gốc’ lẫn tiền lãi đã được nộp lại cho đảng như một cách ‘khắc phục hậu quả’. Ngân sách rốt cuộc đã thu hồi tiền và chẳng mất mát gì. Theo lẽ thường tình của bộ máy pháp đình xã hội chủ nghĩa, vụ việc hay vụ án chỉ dừng ở đó và chỉ mang tính cảnh cáo răn đe là chính, chứ không phải là một cuộc truy đuổi hình sự rốt ráo như cái cách mà Bộ Công an mới khởi tố và tống giam Phạm Nhật Vũ vào trung tuần tháng 4 năm 2019.

Trong bối cảnh ấy, tội danh ‘đưa hối lộ’ được quy về Phạm Nhật Vũ, rất đồng pha với việc hai cựu bộ trưởng Nguyễn Bắc Son và Trương Minh Tuấn bị khởi tố thêm tội danh ‘nhận hối lộ’, là một động thái tố tụng hình sự mới tinh và khiến cho nhiều người ngạc nhiên, tuy đa số dư luận vẫn ủng hộ phương án ‘Tổng tịch’ phải xử lý nghiêm vụ ‘MobiFone mua AVG’ bằng tòa án chứ không phải các cuộc họp chi bộ chỉ để ‘kiểm điểm’.

Vì sao vụ ‘MobiFone mua AVG’ được khơi lại, mà lại khởi theo cái cách ‘dám’ bắt cả em trai của một tỷ phú đang sở hữu một tập đoàn kinh tế tư nhân không chỉ có thể khuynh đảo nền kinh tế Việt Nam mà còn được xem là chỗ dựa của nhiều quan chức cao cấp?

Phạm Nhật Vũ có phải là nhân vật cuối cùng bị bắt trong vụ ‘MobiFone mua AVG’, hay còn những nhân vật khác và ‘chúa’ hơn sẽ tiếp nối?

Phải chăng cái đích trong vụ ‘MobiFone mua AVG’ mà Nguyễn Phú Trọng nhắm tới phải là ‘sâu chúa’, còn những Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn, Phạm Đình Trọng chỉ là loại làm thuê?

Hãy nhìn lại một nhân vật mà từ đầu đến cuối được xem là ‘tổng đạo diễn’ vụ ‘MobiFone mua AVG’: Nguyễn Thanh Phượng.

“Công chúa” nắm vai trò gì?

Theo một số thông tin xuất hiện rải rác trên mạng xã hội bắt đầu từ năm 2015 và đặc biệt nổi bật vào đầu năm 2018 khi Thanh tra chính phủ chính thức công bố kết luận thanh tra vụ ‘MobiFone mua AVG’, Nguyễn Thanh Phượng (nguyên chủ tịch ngân hàng Bản Việt) đã đưa Lê Nam Trà lên ghế Chủ tịch Mobifone để cùng Phạm Nhật Vũ tính kế vụ AVG, chỉ đạo bốn công ty định giá trong việc nhào nặn số liệu để đưa AVG lên mức giá cao hơn 9 lần giá trị thực. Khi bị khởi tố bắt giam, chắc chắn Phạm Nhật Vũ sẽ khai ra danh sách các quan chức nhận tiền lại quả của vụ AVG (người ít thì nhận vài chục tỷ, người nhiều thì nhận đến gần nghìn tỷ)…

Có 4 đơn vị tư vấn thẩm định giá “thương vụ mafia” AVG là Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) thẩm định là 24.548 tỷ đồng, Công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC thẩm định 33.299 tỷ đồng; Hà Nội Value thẩm định 18.519 tỷ đồng. Còn Công ty Tư vấn Đầu tư và thẩm định giá AMAX đưa ra con số thẩm định là 16.565 tỷ đồng, trong đó, giá trị tài sản hữu hình là 3.117 tỷ đồng, giá trị tài sản vô hình ngoài bảng cân đối kế toán là 13.448 tỷ đồng.

Sau đó, kết quả định giá của AMAX được Mobifone sử dụng để đàm phán mua 95% cổ phần AVG với số tiền 8.889 tỷ đồng.

Trong khi AASC và VCBS đều là những thương hiệu lớn, thì Hanoi Value và AMAX đều là công ty rất nhỏ, vốn điều lệ của Hanoi Value chỉ là 1 tỷ đồng và của AMAX chỉ là 3,8 tỷ đồng. Với khả năng tài chính như vậy, việc Hanoi Value và AMAX được tham gia tư vấn cho một dự án lớn tính bằng trăm triệu đô đến tỷ đô như vậy là kỳ quái.

Chỉ một năm sau khi thương vụ thẩm định giá trên hoàn thành, Hanoi Value đã chuyển thành công ty mỹ viện, chuyên chăm sóc sắc đẹp. Còn AMAX vẫn là một công ty nhỏ với vốn điều lệ giữ nguyên 3,8 tỷ và gần như không có gì nổi bật sau khi được nhận một thương vụ rất lớn như thế. Người đại diện pháp lý và là Tổng giám đốc là Võ Văn Mạnh, một Thạc sỹ giảng dạy tại Fulbright.

Ngay sau khi kết luận thanh tra vụ “Mobifone mua AVG” của Thanh tra Chính phủ nhận được sự chấp thuận của Chính phủ để chuyển sang cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an, một hiện tượng đáng chú ý là một số tờ báo nhà nước đã xoáy vào trách nhiệm của công ty tư vấn thẩm định giá vụ AVG, đặc biệt đặt dấu hỏi “AMAX là công ty nào?”, trong khi không quan tâm lắm đến vai trò của các công ty tư vấn lớn hơn nhiều là AASC và VCBS.

Một luồng dư luận cho rằng “Manh mối nằm ở đây. AMAX chính là công ty của Phượng, dù Phượng không hề đứng tên hay sở hữu chút cổ phẩn nào ở đó. Và 3 đơn vị kia chỉ là chân gỗ được sắp xếp vào và cố tình hét giá cao nhất để AMAX được nhận làm kết quả… Điểm cuối của những bài điều tra chắc chắn sẽ là AMAX, nói đúng hơn, là tìm đến công chúa Nguyễn Thanh Phượng”.

Nguyễn Thanh Phượng lại là con gái ruột của cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

‘Sâu chúa’ là những ai?

Vào năm 2015 và ngay trước đại hội 12 của đảng cầm quyền, trên mạng xã hội xuất hiện một bản giải trình 12 điểm được cho là của ông Nguyễn Tấn Dũng – khi đó còn là thủ tướng – gửi Tổng bí thư và Bộ Chính trị, trong đó có nội dung giải trình về tài sản của “cháu Nguyễn Thanh Phượng” và việc bà Phượng lấy chồng là con trai của một quan chức thuộc chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Nhưng việc bà Nguyễn Thanh Phượng không có tên trong kết luận thanh tra của Thanh tra chính phủ vào tháng 3 năm 2019 cho thấy một khả năng: không chỉ bà Nguyễn Thanh Phượng có thể “thoát” vụ “Mobifone mua AVG”, mà cả cha con Nguyễn Tấn Dũng vẫn tạm thời an toàn.

Từ “tạm thời” có lẽ là hợp lý nhất trong một chính trường luôn xáo trộn, nơi mà những hứa hẹn, cam kết luôn đầy sắc thái ma mị và có thể bị hủy bỏ, lộn ngược vào bất kỳ lúc nào.

Nhưng giờ đây, thời thế đang lộ ra sự lộn ngược của nó khi một lý lẽ như đinh đóng cột đang dần hiện ra: đã bắt Tuấn và Vũ, không thể không bắt Phượng.

Bởi theo logic vốn phải thế, một khi Nguyễn Bắc Son và Trương Minh Tuấn đã khai ra nhận hối lộ từ Phạm Nhật Vũ, sẽ đến lượt Vũ và hai nhân vật của AMAX vừa bị bắt cùng Phạm Nhật Vũ là Giám đốc AMAX Võ Văn Mạnh và nhân viên – phải khai ra ai là ‘tổng đạo diễn’ vụ ‘MobiFone mua AVG’.

Trước đó, dường như Nguyễn Phú Trọng đã không có được những lời khai đắt giá ấy từ hai phiên tòa xử Đinh La Thăng vào đầu năm 2018 và cả từ đại gia ngân hàng Trần Bắc Hà – kẻ được xem là thũ hạ tin cẩn của Nguyễn Tấn Dũng.

Cũng bởi thế, 2018 là năm mà ông Trọng loay hoay với những vụ án lớn, nhưng chỉ lớn và kéo dài đến nửa đoạn đường dẫn đến cửa nhà cựu thủ tướng Dũng. Cái còn thiếu là bằng chứng theo nguyên tắc ‘án tại hồ sơ’.

Vụ ‘MobiFone mua AVG’ là sự tiếp nối của vụ Junin 2 (Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có nhiều dấu hiệu hối lộ đến 584 triệu USD cho các quan chức Venezuela để nhận được quyền khai thác dầu khí tại mỏ Junin 2) – cả hai đều phảng phất bóng dáng Nguyễn Tấn Dũng.

Dấu hỏi còn lại: Nguyễn Thanh Phượng có phải là ‘sâu chúa’ mà Trọng muốn bắt? Hay còn ai nữa?

Logic là thế, nhưng thực tế diễn biến ra sao lại phải chờ ‘Tổng tịch’ có qua được cơn hiểm nghèo ‘tai biến’ vừa xảy ra với ông ta tại Kiên Giang – nơi được xem là căn cứ địa cách mạng của gia độc Nguyễn Tấn’ – vào ngày 14/4/2019 hay không.


More reading

Giậu đổ bìm leo

30-4-1975

Họ lợi dụng Dân Chủ để được bảo vệ trước pháp luật bản xứ; lợi dụng Tự Do bản xứ để chửi quân cán chính VNCH, những người đã hy sinh cho họ được an lành ấm no suốt 20 năm điêu linh ở miền Nam vì mưu đồ bán nước của CSBV. Họ đồng lõa với quan thầy VC trong âm mưu dìm hồn thiêng sông núi vào vũng bùn bồn rửa; bôi bác một tôn giáo đã có công sản sinh ra chữ quốc ngữ Việt và là nền tảng tạo dựng nên cường quốc đang cho họ dung thân phì gia! Họ có còn xứng đáng là con người; nhất là con người lưu vong biết tự trọng với căn cước tị nạn; không “nhổ rồi lại liếm
https://baomai.blogspot.com/
*_ Trận mùa Xuân 1975 đã kết thúc với một bên hết đạn phải buông súng; một bên được viện trợ gấp bội để xé bỏ hoàn toàn Hiệp Định Paris 1973 và hoàn tất mưu đồ xâm lăng của đế quốc Cộng-sản Nga Tàu. Từ đó thấm thoát đã 40 năm -gần nửa thế kỷ- để thế hệ lưu vong suy tư và “ôn cố tri tân”; ngõ hầu gây dựng cho thế hệ con cháu một chiến lược hoàn chỉnh cho cuộc chiến giành Tự Do, Dân Chủ vẫn chưa kết thúc để lấy lại giang san mà các vua Hùng đã ngàn năm tạo lập; các vua Đinh, Lê, L‎ý, Trần, Nguyễn đã mở mang bờ cõi và hai nền đệ I & II Việt Nam Cộng Hòa đã bảo vệ vẹn toàn. Bài học 40 năm ấy cho thấy chế độ nhân bản VNCH không chỉ lo đem lại cơm no áo ấm cho toàn dân -kể cả thân nhân kẻ bên kia chiến tuyến-  mà còn phải cùng lúc lo đối phó với xâm lược triền miên không ngưng nghỉ; với phản bội từ bên ngoài và nhất là những phản trắc từ bên trong. Do đó mới có ngày 1/11/1963 và hậu quả tất yếu của nó là ngày 30/4/1975.
https://baomai.blogspot.com/
Cảnh “giậu đổ bìm leo” 40 năm ấy được ghi nhận bởi các ký giả nước ngoài ít ỏi có cơ may mục kích tại chỗ và các sử gia chuyên nghiệp ghi chép lại một cách trung thực. Nayan Chanda, Pierre Darcourt, Tiziano Terzani là các cây bút trong số đó. Dẫn chứng của các tay đương kim hay cựu trùm cộng sản tuy không có giá trị sử học nhưng cũng lột trần được sự thật mà chính họ từ bên kia bức màn sắt từng lừa dối quốc tế, đồng bào và lừa dối lẫn nhau.

1_ Quân lực VNCH Hết Đạn:
Tướng Soviet Nicolai Firyubin sớm đến Hà Nội giúp trang bị tối đa vũ khí cho CSBV (Cộng sản BắcViệt). Ngay từ đầu 1975 sau những vi phạm lớn nhỏ để thăm dò phản ứng và thấy Mỹ bất động sau ngày BMT thất thủ 10/3, CSBV đã tăng tốc kế hoạch chiếm miền Nam mà họ dự trù kết thúc năm 1976 bằng các hoạt động quân sự ráo riết.

Dù vậy, TT Thiệu vẫn can đảm đến An Lộc để thăm quân sĩ đang đánh bật CSBV khỏi đây sau khi thất thủ hôm 21/3. CSBV tàn sát 250 người Thượng ở Dakson, VC (Việt Cộng) giết hơn 300 tín đồ Cao Đài ở Tây Ninh sau 30 giờ tấn công; đem 1,500 đặc công vào bố trí quanh TSN với 4 khẩu 105 ly tháo rời từng mảnh. BCH của họ đặt tại quận 7 Saigon có một Thiếu Tướng VC và cả 1 thành viên trung ương đảng CS từ 26/4.
https://baomai.blogspot.com/
Tướng VC Trần Văn Trà có mặt tại Biên Hòa cùng 5 sư đoàn BV từ hôm 25/4. Có tin CSBV dành 300,000 đạn 130 ly để pháo Saigon. SĐ 25BB đóng ở Gò Dầu Hạ thiếu đạn 105 ly và 155 ly trầm trọng: mỗi ngày chỉ được bắn vài tràng! Ở miền Trung, CSBV áp dụng cưỡng bức hôn nhân; buộc gái miền Nam lấy thương phế binh BV như hồi 1955 ở miền Bắc; cụ thể là tại nơi chiếm đóng Quảng Nam.

CSBV và VC vào Saigon bằng 4 hướng, BCH (bộ chỉ huy) ở Biên Hòa: xa lộ 13 hướng bắc vào đường Hai Bà Trưng, hướng Tây vào ngã tư Bảy Hiền từ Tây Ninh, hướng tây nam vào Chợ Lớn và hướng đông hùng hậu nhất với hàng trăm tăng, quân xa, đội phòng không 203 từ Hố Nai vào đường PhanThanh Giản và Hồng Thập Tự. Xe tăng số 843 do Bùi Quang Thân chỉ huy, tài xế Lữ Văn Hàng, 2 xạ thủ Thái Bá Minh, Nguyễn Văn Kỷ và chính ủy Bùi Văn Tùng. Xe khởi hành từ 5g sáng; đến Thị Nghè lúc 11g trưa. Thân gặp 2 quân nhân VNCH dọc đường Mạc Đỉnh Chi; bắt một người lên xe chỉ đường đến dinh ĐL (Độc Lập) và ngừng xe hỏi đường một cô gái đi Honda. Xe bắn chỉ thiên khi đến nhà thờ Đức Bà. Một số quân xa VNCH bị xóa dấu vết và bị trưng dụng chở bộ đội Bắc Việt theo sau.

Các tòa đại sứ đồng minh bắt đầu di tản nhân viên. TQLC Mỹ đốt giấy tờ mật và cả một số tờ $100 USD lấy từ két của tòa đại sứ. TQLC Mỹ không kịp phá bỏ bảng đồng gắn nơi đồng đội của họ tử thương hồi Tết 1968; nguyên văn trích từ Lawrence of Arabia “. . . bởi đó là chiến tranh của họ và thời gian của ta ở đây có hạn”. Dân Ấn và Pháp treo cờ nước họ trước nhà và các cơ sở kinh doanh, trường sở để tránh bị VC tấn công lầm. Sân bay TSN còn ngổn ngang hơn 100 xác máy bay các loại nhưng tháp điều khiển còn nguyên. Ký giả Ý Terzani dùng ảnh chụp chung đã lâu để xin vào TSN gặp Võ Đ. Giang nhờ chuyển tin sớm nhất về 30/4 cho báo Đức “Der Spiegel” ở Hamburg qua ngã Hà Nội -East Berlin. Số phôn của Giang để liên lạc là 924-5149 mà ký giả ngoại quốc ai cũng biết do Thiếu tá VC Phương Nam trực máy. Vài thành viên Canada trong ICCS bị CSBV bắt làm tù binh nhiều ngày nên sau này CP Canada phải rút lui. 
 

2_ Saigon Thất Thủ
https://baomai.blogspot.com/
Tại dinh Độc Lập (ĐL), xây lại suốt gần 1 năm tốn 1.5 triệu USD; khánh thành hôm 30/10/1966), Tướng nằm vùng VC Nguyễn Hữu Hạnh mặc quân phục đeo 1 sao cùng với Vũ Văn Mẫu, Lý Qúy Chung, Ng.V. Ba và nội các đứng đón Thân. Thân quát hỏi “Dương Văn Minh đâu?”. Big Minh bước tới trả lời “xin bình tĩnh; chúng tôi đã đầu hàng rồi!”.

Sinh viên Nguyễn Hữu Thái chỉ lối cho Thân leo lên tầng trên treo cờ Mặt Trận Giải Phóng hồi 12:15 trưa 30/4. Chính ủy Tùng đến sau 10 phút; tự giới thiệu với Big Minh và bảo Minh cùng 18 thành viên nội các rằng họ cứ tự nhiên. Thân ra lệnh “Anh Minh” đến đài phát thanh đọc lệnh đầu hàng chính thức do chính ủy Tùng viết tay. Lời tuyên bố ngừng bắn của Big Minh trước đó đã được thu âm vào máy của kí giả Đức Boris Gallash (Bùi Tín-HXT tr.53).

Bọn sinh viên Thái đến đài trước nhưng không biết dùng nên loay hoay 2 giờ sau và vài lần thử mới phát thanh được lúc 2:30 chiều. Sau khi đọc lệnh đầu hàng, Big Minh ra lệnh giải tán Chính quyền quốc gia ở mọi cấp. Ls Vũ Văn Mẫu, thủ tướng hô hào toàn dân đón chào “hòa bình” và ra lệnh công chức trở lại làm việc. Minh và Mẫu được Cộng sản Bắc Việt chở về dinh ĐL. Phó TT. Nguyễn Văn Huyền về nhà nằm nghỉ. Nửa giờ sau, tăng Cộng sản Bắc Việt vào dinh. Người nhà ông đã chở ông bằng xe Honda đến dinh trình diện hồi 5g chiều.

https://baomai.blogspot.com/



Hàng chữ “The Noble Sacrifice of The Allied Soldiers Will Never Be Forgotten” ở Tân Sơn Nhất đã bị bôi bằng sơn trắng. Trại Davis bị chiếm hồi 1g trưa. Lm Chân Tín mô tả đêm hôm 29/4 trong hầm trú ẩn của VC: “. . .khi nghe DVM tuyên bố đầu hàng trên radio, cảnh tượng (trong hầm) hết sức vui mừng. Chúng tôi ra khỏi hầm gặp Tướng Tuấn. Bộ đội ôm nhau nhảy và đi tới lui. Tướng Tuấn cho giết con gà và đem chai rượu ra ăn mừng. Chúng tôi thấy chiếc T54 đầu tiên hồi giữa trưa nhưng không rời trại cho đến 6g chiều vì vẫn còn giao tranh ở Bộ TổngTham Mưu . . .Võ Đ. Giang ký cho chúng tôi giấy phép đầu tiên để đi đường hôm 30/4”. VC ở Lộc Ninh sắm dép mới cho cán bộ về thành. Tướng Trà đến dinh ĐL lúc 5:30 chiều cùng chính ủy Bùi Thanh Khiết. Phạm Hùng ẩn nấp lâu ngày không bị lộ diện ở quận 7 Saigon; nay cũng đến đó. Lê Đức Thọ đến Saigon hôm 1/5 từ Lộc Ninh và Biên Hòa. Y làm bài thơ dài gởi Bắc Bộ Phủ mừng chiến thắng. Chiều 30/4, Hải quân Bắc Việt đến Saigon để gom tàu thuyền còn kẹt lại. Hồi 12:50, một chiếc Mi-6 của KQ. CSBV đến TSN để “tiếp quản”; có ký giả Lê Bá Thuyên của tờ “Hanoi Illustrated Review”, dân Saigon tập kết tháp tùng.

3_ Saigon Hỗn Loạn
Sau khi TT Thiệu từ chức hôm 21/4, hoang mang và hỗn loạn bắt đầu diễn ra ở Saigon không kém ở miền Trung. Nhóm Lm Tín, Gs Luân và Ls Liễng từ nhà Big Minh ở số 3 Trần Quí Cáp đến trại Davis gặp VC Võ Đông Giang và phải ngủ lại đêm 29/4. Triệu Quốc Mạnh thay Tướng Nguyễn Khắc Bình đã thả 300 tù VC rồi từ chức. Đã có hơn 150 chiến đấu cơ VNCH di tản sang Utapao. Tướng Phú tự tử bằng thuốc sốt rét Novakin tại nhà. Sau khi bị cộng sản Bắc Việt bắt sống hồi 1954 với cấp bậc Đại úy, ông được thả nhờ sinh viên học sinh ở Saigon biểu tình áp lực trước cửa phái bộ Bắc Việt do Văn Tiến Dũng cầm đầu hôm 20/7/1955. Chỉ còn 136/219 vị dân cử lưỡng viện đến Quốc Hội bầu Big Minh làm Tổng Thống. Lý Qúy Chung đề nghị đầu hàng VC nhưng Tướng Minh không chịu. CSBV không chấp nhận tướng Đôn hay ông Lắm làm Thủ tướng vì 2 người này là “tay chân của Thiệu”. Ông Lắm từng ký HĐ Paris và bị TT Thiệu bãi chức do khi kí đã “hug” VC Nguyễn T. Bình. Ông Huyền từ chối chức này để tránh tiếng là thân Công giáo (CG). Cựu Tướng Pháp Vanuxem, cố vấn TT Thiệu đến gặp Big Minh bảo đừng đầu hàng; chờ Liên-xô, TC can thiệp. Sau khi Big Minh tuyên bố đầu hàng lúc 10:20 sáng 30/4, bồi bàn “Joseph” nằm vùng ở Caravelle Hotel la lớn “C’est fini, c’est fini!” (thế là xong!)
https://baomai.blogspot.com/
Một đám sinh viên Vạn Hạnh do Nguyễn Hữu Thái cầm đầu chiếm trường Đại học Vạn Hạnh; tự xưng là “Phật tử Yêu nước” rồi 2 giờ sau tự xưng “Hội Đồng Cách Mạng” in giấy phép đi đường cấp cho quân cán chính VNCH. Thái một mình đến Ấn Quang nhờ VC Thích Trí Quang thuyết phục Big Minh đầu hàng VC và thông báo cho MTGP 10 trung tâm Phật Giáo (PG) để họ tránh đừng pháo kích nhưng MT không trả lời! Thái nghe Vũ V. Mẫu nói trên phôn “nhờ Trí Quang xin MTGP cho một số viên chức nội các rời VN và cho đại diện quân sự của Big Minh gặp MT để thảo luận đầu hàng”. Thái rời trường Vạn Hạnh đi tìm Lý Qúy Chung tại dinh ĐL để xin vào đài phát thanh nhưng tài xế không chịu đi. Thái (cha là Sĩ quan VNCH) tâm sự y theo VC khi gặp chúng trong tù hồi 1964 khi y biểu tình chống Chính phủ Nguyễn Khánh. Thái được Đ. Tá Mỹ Wilson, cố vấn của tướng Kỳ che chở nên bị VC nghi ngờ và bị thất sủng sau này. Thái bị bắt lần 2 năm 1966 tù 2 năm; ra tù vào bưng ở Quế Sơn, Đà Nẵng nhưng VC không tin dùng. Y bị động viên vào TTVB Thủ Đức năm 1968. Y giúp VC với bí danh “Hai Hòa” phụ trách giao liên với nhóm VC ở Ấn Quang; tổ chức ám sát Trần Q. Bửu 2 lần hụt nhưng thành công giết Gs Bông. Ra tù 1974, Thái lại liên hệ nhóm Ấn Quang và Mẫu nên được có mặt trong dinh ĐL hôm 30/4. Y than “vào Đảng không dễ” vì lí lịch và giai cấp; hơn nữa y trông cậy vào tổ trưởng VC vụ giết Gs Bông để tên này khai tên y ra mà lập công; khốn nỗi tên VC này lại hợp tác với địch để tránh bị án tử nên mộng vào đảng CS của y tan thành mây khói! 

Big Minh được CSBV thả hồi 7:30 tối 2/5. Big Minh từng quen biết Huỳnh Tấn Phát hồi 1945. Lễ trả tự do có mặt chính ủy Bùi Thanh Khiết, Tướng Trà – chủ tịch Ủy Ban Quân Quản và Cao Đăng Chiếm phụ tá. Trà phát biểu tuyên truyền: “. . .vinh quang dành cho mọi người Việt”. Big Minh đáp từ: “Tôi 60 tuổi hôm nay vinh dự được một lần nữa làm công dân Việt Nam tự do”! Big Minh và nội các được miễn tù cải tạo. Nhà ông nay không còn VC canh gác nhưng phôn bị cắt và ít ai còn lui tới. Nhà PTT Huyền ở 181 Hồng Thập Tự cũng vậy. Ông Huyền tiết lộ có một số SQ. VNCH đến nhà Big Minh phản đối lệnh đầu hàng nhưng tướng Minh trấn an được họ nên cũng êm. Vũ V. Mẫu xác nhận “lực lượng thứ ba” không còn hiện hữu. Nguyễn Văn Hảo được mời vào dinh ĐL để báo cáo về kinh tế. Hảo nộp 16 tấn vàng cho VC theo luật quốc tế và có lẽ cũng để lập công. Bọn cầm quyền ở Bắc Bộ Phủ đã chia nhau bỏ túi số vàng này; tổng cộng 27 tấn (Bùi Tín-MMTK tr.147). Hình ảnh căn nhà dát vàng của Nông Đức Mạnh hiện nay là một bằng chứng hùng hồn. Tin đồn TT Thiệu lấy đi 16 tấn vàng do chính CSBV và VC tung ra; nguyên văn “cho đến ngày 26/4 khi Thiệu và gia đình hắn đem 16 tấn vàng bạc, đô-la, của cải vội vã chạy sang Đài Loan. .. .” (Văn Tiến Dũng -ĐTMX trang 249)!
https://baomai.blogspot.com/
Trường Vạn Hạnh nay là trung tâm “cách mạng”. Sinh viên đeo băng hiệu màu vàng của trường và làm việc không lương suốt ngày. Trong sân và 2 phòng lớn có hơn 1,500 súng carbin, 2,600 M16, 400 M72, 174 M79 và 3 thùng súng ngắn. Bên ngoài đường có 14 quân xa; tất cả do cựu binh VNCH đem đến nộp và trình diện. Nhóm 15 sinh viên Vạn Hạnh lấy súng và lựu đạn của binh sĩ BĐQ bỏ lại trường để chiếm phân khoa Nông Nghiệp trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm cạnh đài phát thanh. Một sinh viên VH bị một CSQG bắn chết khi la lớn mừng MTGP. Bộ đội BV và “cách mạng 30” (CM30) đeo súng M16 đến chiếm Maxim Hotel cạnh Majestic Hotel ở bến Bạch Đằng. Một CM30 bắn thị oai để giải tán đám đông bu quanh hai cô gái “ăn sương” cãi lộn trước Continental Hotel đã bị hai bộ đội lại tước súng.
4_ Saigon Đổi Chủ
Đài TV Saigon tái hoạt động hồi 7g tối 1/5 với hình ảnh cờ xí BV & MTGP và chân dung HCM. Sau đó, Huỳnh Tấn Mẫm phát biểu và một VC đọc lệnh cấm lưu hành “văn hóa đồi trụy” Saigon. Ba ngàn người kể cả một số cảnh sát viên lánh nạn ở bệnh viện Grall của Pháp đã ra về hôm 2/5. Bưu điện Saigon mở lại hôm 7/5. Con gái của Nguyễn Hữu Thọ (Chủ tịch MTGP) di tản đi Mỹ với “chồng” người Mỹ. Một cựu bộ trưởng của MTGP từng là bồ của một sĩ quan cảnh sát VNCH cũng đã theo di tản ra nước ngoài. Thống đốc Lê Q. Uyên, phụ tá và toàn bộ ban quản trị Ngân hàng quốc gia VN bị bắt tại sở làm cùng toàn vẹn 27 tấn vàng. Ông Uyên tốt nghiệp ở Pháp; tuổi chưa đến 40. Ông kẹt lại vì đã đem vợ con vào ngân hàng chờ máy bay Mỹ đến đón nhưng có lẽ đã không nghe thấy tiếng phi cơ. Ông được mời vào dinh ĐL nhưng sau cũng bị tù cải tạo. Có mấy tin đồn: TT Thiệu nhờ hãng hàng không Thụy sĩ Balair chở 16 tấn vàng đi gởi nhưng bị từ chối, vàng được chôn bí mật ở Thủ Đức, vàng được gởi trong két của Banque Francaise d’Asie. VC Lê Minh Châu nay làm giám đốc Saigon-Gia Định National Bank.

Lý Qúy Chung nịnh bộ đội có mặt trong dinh ĐL; nguyên văn “mọi vinh quang đều thuộc phần các anh!”. Một cán bộ tập kết tên Cổ Tấn Chương tức “Bảy Phan” cùng đồng chí đến chiếm bưu điện Saigon. Hai tháng sau, y phụ trách kiểm duyệt văn hóa. Mẹ già và anh chị em của y vẫn ở Rue Foucault phía sau nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi từ hồi 1945 đến nay. Y cũng có anh em là sĩ quan VNCH. Y từng học Lycée Chasseloup Laubat Saigon trước khi theo VM ra bắc. Anh thứ 3 của y là Đại tá KQ.VNCH di tản sang Mỹ. Bộ đội chiếm tòa đại sứ Anh vẫn ngủ bằng “võng Trường Sơn” giăng trong tòa nhà này; có lẽ sợ bị đầu độc?! Toán bộ đội khác vào tòa đại sứ Ý của đại sứ Rubino đã về nước; khoe tìm thấy “máy nghe lén” (máy massage) của CIA “cài đặt” bên trong nệm giường ở đây!?

 
 
https://baomai.blogspot.com/


Cảnh tượng chiếm đóng đa dạng: Lính BV không tuân thủ đèn đường; giặt quần áo treo đầy hàng rào dinh ĐL. Họ dùng gỗ thùng đạn để nấu cơm ngay tại công viên trước dinh. Lệnh giới nghiêm từ 6g chiều nhưng không ai chấp hành. Dân Saigon nhận diện để phân biệt sĩ quan và lính BV qua số bút gắn túi áo của chúng: nhiều bút cao cấp hơn ít bút; không bút là lính quèn?! Một tu sĩ PG leo lên xe tăng CSBV trên đường Công Lí để ôm hôn các cán binh trên xe. Một nhóm CM30 ở đường Lê V. Duyệt gần khám Chí Hòa la lớn và đi xé cờ VNCH và các biểu ngữ. Một tăng CS án ngữ cổng nhà tù này rồi một cán binh xuống xe cám ơn đồng bào đã ủng hộ “cách mạng” và loan báo 7,000 tù ở đây đã được thả. Một sĩ quan BV cấp cao đến thăm một linh mục già ở Hố Nai; cám ơn ngài đã cứu cha mình hồi 1953. 

Lần đầu tiên, kỷ niệm chiến thắng ĐBP được tổ chức ở Saigon hôm 7/5/1975. Toàn bộ lãnh tụ MTGP đều có mặt; trong đó có Tướng Trần V. Trà. Trà sinh 15/1/1918 ở Quảng Ngãi, gia đình nông dân, có nhiều bí danh từ 1939-1944 như Sing Tich, Lê V. Thắng, Anh Tư Chí ..vv.. Y sang Tàu tháng 2/1949, Nga tháng 12/1949; chỉ huy khu Saigon-Cholon từ 1952 và đánh An Phú Đông, Thủ Đức hồi 1968. Y xác nhận đã giết ký giả Pháp Lucien Bodard hồi thập niên 1950s. Y khoe vợ đẹp tên Lê T. Thoa và con gái luôn sống ở Saigon không bị phát giác. Y đeo 1 sao hồi 1958 khi chỉ huy SĐ 330 CSBV; vào nam 1964 đeo 2 sao từ 1973 dưới quyền N. Chí Thanh. Trà chơi máy ảnh và là “phó nhòm” duy nhất được Phạm Hùng cho chụp ảnh. Võ N. Giáp mặc thường phục cùng đi với 2 cận vệ rảo khắp Saigon sau 30/4 mà không ai hay biết.
5_ Nam Việt Bìm Leo
Lm Chân Tín xin ra Côn Sơn thả tù CS để lập công nhưng không được phép. Ông ngượng ngùng bảo Terzani: “đã xong cả mà không cần chúng tôi”. CS tỏ ra rằng nay họ tự giải phóng tù của họ mà không cần tay sai hay quốc tế. Lm Nguyễn Gia Thụy trở lại Côn Sơn hôm 27/4 yêu cầu Đ.Tá Lâm Bùi Phương thả tù chính trị nhưng bị từ chối. Ông đại tá giám đốc nhà tù này di tản bằng ghe rồi bị VC bắt ở Bến Tre. Lm Phương cùng các cai tù Dậu, Hiên, Đông mở cửa tù cho VC. Trong đám tù VC Côn đảo có Lê Quang Vinh Gs Pétrus Kí, “kĩ sư Tinh”, Bùi Hữu Nhan theo VM từ 1945, Lê Cầu tù từ 1962. . . Trại tù này về tay VC từ 2 giờ sáng. Dậu cùng Vinh, Phan Tư lập BCH và ra lệnh bắt cai tù “Bảy Dũng”, Ching Kuang và 20 người khác; giao lại cho bộ đội BV hôm 4/5. Tất cả tù Côn đảo được đưa đến Vũng Tàu hôm 6/5 để thanh lọc. Lm “hốt rác” VC Phan Khắc Từ cầm cờ máu cùng một số CM30 xông vào trụ sở Tổng Công Đoàn Liên Đoàn Lao Động VN ở số 14 Lê V. Duyệt ngay sau hôm 1/5. Y phân công cho đệ tử gác cổng rồi cùng CM30, dân thất nghiệp, nằm vùng và côn đồ đi xé các biểu ngữ cũ; làm và treo các bảng “Hội Đồng Nhân Dân CM”, xé bỏ các ảnh Trần Q. Bửu bắt tay TT Thiệu và Đs Bunker. Y ngồi vào bàn của Tr. Q. Bửu; tuyên bố sẽ lập Tổng Công Đoàn Giải Phóng và cho in lại tài liệu công đoàn XHCN dùng trong vùng VC kiểm soát. Vợ của Lm Từ đảng viên CS hồi 2014 đã phổ biến trên Internet thư xác nhận mụ là vợ Lm Phan Khắc Từ.

Những kẻ nằm vùng và CM30 nay ra mặt xông xáo khắp miền Nam. Một bà bán nước mía lâu năm ngay trước cổng Ty CSQG Quảng Ngãi nay là thành viên HĐCM tỉnh. Một kẻ “điên” ăn xin lâu năm ở trạm xe bus và thường la hét giữa đồng ruộng; nay là sĩ quan VC ở tỉnh này. Một “gia đình” sống gần Hotel Anh Đào ở BMThuột; nay là nhóm chỉ đạo MTGP với tên họ không liên hệ huyết thống.

https://baomai.blogspot.com/

Bồi bàn Bình của Kim Hoa Restaurant ở góc Pasteur-Lê Lợi Saigon nay là cán bộ VC trở lại để chỉ huy. Một bà lao công của Saigon Circle Sportif nay là cán bộ cao cấp của MTGP. Cận vệ trẻ của Lm Trần Hữu Thanh nay là bộ đội du kích MTGP. Lm Trần Hữu Thanh, người ủng hộ chế độ cũ và tôn thờ quốc kỳ có “3 sọc đỏ cũng là Ba Ngôi Thiên Chúa” (Trinity) được Trịnh Đ. Thảo mời vào dinh ĐL đề nghị cộng tác nhưng ông từ chối khéo. Ngay sau khi VC chiếm dinh ĐL, một nhóm “VC chiêu hồi” mà Lm Thanh giúp tìm việc làm; nay tìm thăm ông và cho biết họ hiện là du kích xâm nhập trá hàng! Thư kí Trần Thị Lan của bà Ngô Bá Thành nay là cán bộ VC. Hai sĩ quan phụ tá của Đại tá Đỗ Việt ở Cục CTCT nay là VC. Tên “Joseph” bồi bàn ở Continental Palace Hotel (CP) sau 30/4 lộ mặt VC nằm vùng: Y qui tụ nhân viên hôm 19/5 để mừng sinh nhật HCM rồi tố cáo ông Lợi quản lí là tư bản “bóc lột”. Ông Lợi bị đuổi rồi lâm bệnh.. 

Những ông bố “vô danh” hay “chết” trong giấy khai sinh của con em vùng sôi đậu nay về thành đoàn tụ với “vợ góa”, “con côi”! Soeur giám đốc một viện mồ côi CG ở Bến Tre bất lực nhìn mấy “trẻ mồ côi” của mình bị (cha mẹ chúng) bắt cóc đem đi giữa ban ngày! Sau 3 tháng “giải phóng”, 1/2 trong số các “trẻ mồ côi” như thế được cha mẹ VC (tập kết, nằm vùng) đem về nhà từ các trại mồ côi CG, PG hay của chính phủ VNCH! Phan Văn Thao, lãnh tụ VC ở Mỹ Tho trước 30/4 lấy tên giả đóng vai chủ vựa lúa, để ria mép, đeo kính trắng; sau 30/4 mới lấy lại tên thật sinh năm 1927 (đã khai tử năm 1956), bạn học của Th. Tá VC Phương Nam cùng quê; học ở Lycée Lemyre de Vilers (sau này là Ng. Đ. Chiểu). Phụ tá của Thao là Lê Thanh Hiên sinh 1937, một Đại úy VNCH nằm vùng chuyên cung cấp tin tức và sơ đồ hành quân cho Thao. Hiên vào đảng CS từ 1960 rồi hợp tác với Thao từ 1967. Thao tự xưng là anh em họ của Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm nên Khiêm biết y là VC mà vẫn làm lơ!? Thao cũng khoe hôm 25/4 đã dùng Honda lên Saigon gặp Khiêm để khuyên ông ta ở lại VN nhưng Khiêm nói ông phải đi vì sợ CIA?!
 

6_ Saigon XHCN
Chợ trời Tôn Thất Đạm đông tấp nập ngay hôm 1/5. Nhiều bộ đội học lái xe Honda lấy được của dân di tản. Dân Tàu Cholon hạ cờ Taiwan và ảnh Tưởng để treo cờ TC và ảnh Mao. Dép râu, ảnh Hồ và cờ BV, MTGP được Cholon sản xuất để kinh doanh. Bộ đội bảo con buôn: “Bác chỉ để tặng; không được bán”! Một đồng tiền BV đổi $2,000 VNCH ngoài chợ đen. Bộ đội “biến chất” đem xăng, rượu cognac, whisky chiếm được để đổi đồng hồ, kính râm, xe đạp và “đài” (radio). Xăng Mỹ màu tím nay được thay bằng xăng Liên-xô màu vàng do bộ đội “thoái hóa” trộm bán ngoài chợ trời. Có một tá bộ đội bị ám sát chết và 30 cuộc xử tử trộm cướp ở Saigon do bộ đội gây ra trong ba tháng chiếm đóng.

https://baomai.blogspot.com/

Một bộ đội ngố ở chợ Hai Bà Trưng kiên nhẫn suốt mấy giờ đứng chờ một cậu bé đem xe đạp lại trả sau khi nó được cho “mượn đỡ vài phút”! Nhiều bộ đội ngố mua lầm đồng hồ Seiko giả của HongKong. Ngoài đồng hồ và “đài” (radio), máy ảnh Polaroid rất được bộ đội BV chiếu cố. Tuy không phải loại 3-D nhưng ảnh chụp lấy liền cho thấy hàm trên răng vẩu chìa ra khỏi cái mồm cười toe toét của mấy bộ đội trẻ quê kệch trông có vẻ lớn hơn răng thật (chắc vì cận ống kính nhất)?! Một bộ đội con của Trần Huy Liệu (chết 1969) tên Trần Thành Công (đổi từ Trần Huy Công sau “giải phóng”) khoe đã mua dĩa Beethoven ở chợ trời đường Lê Lợi vì biết tiếng Đức; từng học ngành hóa chất ở Leipzig, Đông Đức; nay là họa sĩ. Khu cổng TSN cũng biến thành chợ trời đông nghẹt. Sách cũ bày bán vội ở hiên Cafe Rex để tránh bị cấm sau 22/5 theo thông cáo hôm 15/5 của UBQQ.


Nhật báo độc nhất SGGP chỉ phát hành mỗi ngày không quá vài ngàn tờ; tin tức một chiều đơn điệu gây nhàm chán nên từ tháng 7/1975, bọn CM30 chỉ mánh cho VC mở thêm mục vu khống chế độ cũ; bịa đặt những bí ẩn giật gân để in thêm báo câu khách. Các tin giật gân gồm: Tướng Đặng Văn Quang buôn lậu ma túy và giàu có! (VC chống TT Thiệu tất phải bôi bẩn các phụ tá đắc lực của ông. Nếu có bằng chứng, CP Mỹ, Canada và tòa án quốc tế đã chẳng để ông yên thân). Đường dây gạo lậu trước đây do bà Ngô Thị Huyết, dì của TT Thiệu cầm đầu! Cao Giao của Newsweek VC nằm vùng ở Saigon còn bịa đặt rằng TT Thiệu bận giao du với gái 14-15 tuổi do tay chân cống hiến! Ngoài Tướng nằm vùng thật Ng. Hữu Hạnh, tin đồn Tướng VNCH Đồng V. Khuyên, bà con với tướng VC Đồng Văn Cống là sai. CP Mỹ đánh giá Tướng Khuyên là tài ba, cần mẫn và thanh bần nhất của VNCH. Tướng Khuyên không có nhà riêng; vợ chỉ nuôi gà phụ đồng lương của chồng ở trong khu gia binh TTM. SGGP số ngày 3/7 đăng thư của “độc giả” CM30 Lê Hữu T. đề nghị cấm dân Saigon nghe “đài ngoại” như VOA, BBC; đài mà Ph.V.Đồng, Võ N.Giáp, Ng.V.Linh nghe hàng ngày (Bùi Tín-HXT tr18). Các rạp hát nay chỉ chiếu phim Hà Nội về HCM, “anh hùng” Ng.V. Trổi..vv.. Phim Liên-xô, TQ chiếu rất ít ai mua vé coi.

https://baomai.blogspot.com/

Phần lớn giáo sư đại học Y khoa di tản (Nha khoa đi 1/2) nhưng GS ngành kiến trúc hầu hết ở lại. GS khoa xã hội do Mỹ đào tạo bị đi tù “cải tạo”. Trường Vạn Hạnh mở lại tháng 7/75. Chiến dịch xóa dấu vết văn hóa Saigon bắt đầu với việc giật sập tượng TQLC trước tòa nhà quốc hội VNCH hồi 10:30 sáng 5/5. Một nhóm CM30 (kiểu vệ binh đỏ Tàu Cộng) ở chợ Bến Thành xúm cắt ống quần “patte” (ống loe) của một cô gái Saigon; đã bị bộ đội buộc phải bồi thường cho nạn nhân. Đám SVHS “CM30” có trụ sở ở đường Duy Tân chia làm nhiều toán hôm 23/5 đi từng nhà thu gom sách báo “đồi trụy”. Nhiều tóan bị chủ nhà chận cửa hoặc đuổi ra ngoài. Sách “Love Story” bị đốt. Sách của Steinbeck viết trước kia không bị cấm nhưng sách viết sau khi ông đến VN với lập trường ủng hộ quân đội Mỹ thì bị thu. Sách của Solzhenitsyn bị cấm tuyệt. Vụ phản kháng mạnh nhất là tại lề đường Nguyễn Kim: nhóm CM30 thấy có vài tờ Playboy bèn lấy cớ đòi tịch thu hết số sách báo bày bán còn lại. Người bán, một cựu binh VNCH nổi giận lấy ra một quả lựu đạn rút chốt khiến ông và 3 “CM30” chết banh xác! Nhiều xe tải chở sách giáo khoa “cách mạng” từ Hà Nội vào Saigon; cất ở VP báo chí cũ ở đường Tự Do để cung cấp cho các trường.. Buổi hòa nhạc đầu tiên được tổ chức tại tòa nhà quốc hội cũ có Nguyễn Hữu Thọ dự. Bản “La Donna el Mobile” của Rigoletto được hát bằng tiếng Nga.
 

7_ Vắt Chanh Bỏ Vỏ
Bọn CM30 bị giải tán sau 3 tuần lễ “làm cách mạng”. Một số vào bộ đội khi có đợt tuyển quân hồi tháng 6/1975 để làm bia đỡ đạn sau này bên Kampuchia. Bọn quân quản xuất thân du kích và nằm vùng các địa phương sau này đều bị phế thải. Ngay cả bọn MTGP ở trung ương đều bị thất sủng gần hết. Trương Như Tảng vượt biên, tên phụ tá tự tử vì bị vợ con chửi và làm nhục (hồi kí “Truong Nhu Tang: Une Viet Cong Mémoire” 1984). Bản thân tướng Trà bị cấm ra mắt hồi kí “Những Chặng Đường B2 Thành Đồng” hay “Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm” hồi 1987 (có số lượng nhỏ in lại ở hải ngoại) được cho là giành công với Văn Tiến Dũng qua hồi kí “Đại Thắng Mùa Xuân”, NXB. QĐND 1977 trước đó. Cựu Tướng Trà sau bị đầu độc và chết trong một bệnh viện ở Singapore; tựa như số phận Nguyễn Bá Thanh sau này vậy!

Số phận nhóm phản chiến CG: Báo “Đối Diện” thân VC của Lm Tín ra hồi tháng 7/1969; sau trao cho cựu Lm Ng.Ngọc Lan đổi thành “Đồng Dao” rồi “Đứng Dậy” trước 30/4. Sau 30/4 báo bị cấm hẳn. Ng. Ng. Lan tâm sự: “tôi liên lạc lần đầu với Mặt Trận hồi 1968 khi Gs Luân đem tôi đến vùng GP Bến Lức gần Mỹ Tho. . .anh em và bạn bè tôi quyết định hợp tác với người Marxist và chúng tôi sẵn sàng nhận lệnh từ du kích quân . . .nhưng cán bộ bảo không cần tôi sang phía họ; chỉ cần GHCG đứng ngòai cuộc chiến”. Lm Lan sau này lấy vợ và có đứa con gái; bị VC thất sủng và ám sát hụt súyt chết mấy lần. Tờ “CG và DT” số ra ngày 10/7 đăng chuyện (tuyên truyền lố bịch) ở giáo xứ Bắc Tiến, Gò Vấp: “Một bà ôm bộ đội nói ‘cám ơn anh đã vào giải phóng kịp bằng không chúng tôi đã rơi vào tay CS và chịu số phận tử đạo!’. Anh bộ đội nhìn bà ngạc nhiên, trả lời ‘nhưng tôi vừa là CG vừa là CS!”. Chủ bút là Lm Nguyễn Đình Thi trong nhóm phản chiến từ Paris về. TGM Bình hợp tác với chế độ và ủng hộ nhóm phản chiến các Lm Thi, Tr. Bá Cần, Huỳnh C. Minh và Chân Tín. Lm Minh vẫn còn là tai mắt của chế độ bên trong Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn.

https://baomai.blogspot.com/

Ông Ngô Công Đức nổi tiếng thế giới với tựa đăng trên báo Tin Sáng của ông “Yankee Go Home!” khiến ông phải sống lưu vong ở Bangkok; sau 30/4 đã trở về Saigon qua ngả Hà Nội để gặp Phạm V. Đồng. Hôm 6/6, ông Đức được Nguyễn Hữu Thọ mời vào dinh ĐL. Ông tuyên bố vu vơ “tôi không phải cộng sản nhưng biết đâu có ngày thành CS cũng nên!”. Ông sinh năm 1936, cháu của TGM Bình. Cha là địa chủ bị VM giết. Ông chống cộng kiểu cố TT Diệm (chống đem quân Mỹ vào VN) nên báo TS bị tịch thu 282 lần trước khi bị đình bản hẳn tháng 2/1972. Sau 2 lần bị ám sát hụt; có lẽ để cảnh cáo, ông phải qua Thái ẩn dật. Ông từng được ĐGH Paul VI tiếp kiến. Thụy Điển cấp passport cho ông đi công du các nước để chống can thiệp Mỹ. Trong chuyến Âu du tháng 7/1973, ông đã gặp Phạm V. Đồng. Sau 30/4, nhóm 29 người của ông Đức được miễn tù “cải tạo”; tuy nhiên báo Tin Sáng chỉ được tái bản một thời gian ngắn. 
 

8_ Tống Cựu Nghinh Tân
Trước 30/4 có khoảng 400 ký giả nước ngoài ở VN; 150 đã di tản trước khi Tân Sơn Nhất đóng cửa. Số 127 kẹt lại sáng 30/4 được chở đi Vientiane- Lào hôm 24/5 bằng 2 chiếc Ilyuchin; trong đó có Tướng Vanuxem. Ký giả Pháp Michel Laurent bị lạc đạn chết trên đường đi Xuân Lộc. Nhiếp ảnh viên Jean-Claude Labbé bị bộ đội chận xét vì đeo băng đỏ và huy hiệu HCM. Khi anh ta trình thẻ đảng viên CS Pháp, tên bộ đội đưa tay lên vành nón cối chào và nói “cám ơn đồng chí!”. Hai phái đoàn ICCS Poland và Hungary được VC tổ chức tiệc tiễn về nước chiều 7/5. Khách gồm tướng Trà, Đ.tá Dương Đ. Thao, nữ Th. tá Phương Dung. Sứ thần Vatican, GM LeMaitre gốc Bỉ bị bọn CG phản chiến xua đuổi theo lệnh VC hôm 3/6 nên bộ đội chỉ đứng nhìn không can thiệp; nhưng khi 300 giáo dân từ đường Trương M. Giảng đến giải vây cho ngài thì bị nổ súng chận ở góc Trương Tấn Bửu khiến 3 bị thương và một số bị bắt. Tại TSN sau khi bị trục xuất, sứ thần Vatican LeMaitre bị VC khám kỹ hành lí và chiếu đèn quay phim. 

VC trổ tài chơi xỏ -biệt tài vô địch của chúng- các đồng minh cũ của VNCH: Chúng mời cựu đại sứ Pháp Merillon đến dinh ĐL dự lễ chiến thắng hôm 15/5 nhưng lại cố tình in sai giờ khiến ông bị tẽn tò! VC không ra lệnh trục xuất nhưng chỉ lặng lẽ đuổi ông đi hôm 5/6. Vì chỉ có máy bay của International Red Cross và UNICEF thuộc LHQ được đáp nên mãi đến tháng 6 mới có tên ông: “Jean-Marie Merillon, Nationalité Francaise, né 1926, Passeport numéro 593”. Ông đi cùng các giáo sư và y tá Pháp bị trục xuất cùng lượt. VC vớt vát cho ông đỡ “mất mặt bầu cua” bằng một trò tiểu xảo: đuổi hết hành khách xuống sân bay rồi mời ông, hành khách đầu tiên được lên lại máy bay! Hành lí của ông do một phụ tá xách đã bị một bộ đội khám xét: VC tỏ thái độ cho Merillon biết ông không còn được hưởng qui chế miễn trừ ngoại giao vì “tội” đã làm đồng minh của kẻ thù chúng.
9_ Cướp Đoạt và Trả Thù
Hãng bia BGI bị chiếm sáng 30/4. Hơn 2,000 công nhân tịch thu súng của vài lính gác rồi lập HĐCM 5 người. Chủ tịch là Huyền Ngọc Thanh 50 tuổi từng bị tù 3 năm ở Chí Hòa về tội nằm vùng trong TCĐ để cung cấp thuốc tây cho VC trong bưng. Gia đình chủ Pháp nay chỉ còn là chuyên viên kỹ thuật của BGI. Chính ủy nay là Ng.Nam Lộc 53 tuổi từng là CT.CĐLĐ trong vùng VC; hồi 1956 nằm vùng coi kho nhà đèn Saigon bị bắt; ra tù 1961 rồi vào bưng. Hãng pin Con Ó cũng bị tịch thu. Tiệm vàng Bảo Chu ở 165 Tự Do nay phải bán cháo $150/chén. Continental Palace Hotel do Mathieu Franchini làm chủ từ thời Pháp. Con trai Philippe kế thừa sau khi ông qua đời; đã trao cho ông Lợi quản lí‎ vì anh ta mê hội họa hơn kinh doanh và thường xuyên sống bên Pháp. Philippe sang Saigon trước 30/4 một tháng để bán khách sạn này nhưng bất thành. CP Hotel bị bộ đội tịch thu hồi tháng 6/75 rồi đuổi nốt hai khách trọ cuối cùng là hai ký giả Terzani của Italia và James Fenton của Anh. 

https://baomai.blogspot.com/

Givral Hotel từng được đổi tên thành Garden Hotel khi chủ Pháp về hưu mở tiệm bánh kế bên và bán lại bar cho người Tàu Cholon thời Mỹ vào VN. Nhưng mọi người đều thích gọi tên cũ. Đây là trung tâm gián điệp lớn nhất và nhộn nhịp nhất ĐNÁ thời đó. Gián điệp đã cung cấp tin BMT thất thủ sớm nhất cho ký giả Pháp Paul Leandri của AFP khiến ông bị CSQG bắn chết ngay trước cổng BTL ở Saigon hồi tháng 3/75 sau khi ông gởi tin này đi. Một cảnh thương tâm xảy ra ở Givral trước ngày bị tịch thu: phụ nữ tên Phụng, ca sĩ, bị người tình quận trưởng (Q. X?) bỏ rơi sau khi di tản với vợ con; đã đến lảm nhảm điên loạn một mình suốt ngày. Xe hơi tư bị tịch thu và xung công; mang các bảng số “K1, K2, K3 . . .” để phân biệt ban ngành. Xe gắn máy, quạt trần (bị ngộ nhận là “máy chém” lúc đầu), TV, quạt bàn, phonograph, stereo cassette . . .bị gom chở về BV như chiến lợi phẩm. Chiến thuật cướp đoạt tài sản của VC bắt đầu với 300,000 dân Saigon bị đuổi đi “Kinh Tế Mới” 3 tháng sau ngày 30/4; và nhất là cuộc đánh tư sản và đổi tiền sau đó chỉ là đợt 2 sau vụ cướp 27 tấn vàng trong ngân hàng QGVN. 

Hàng ngàn “tòa án nhân dân” mở ra khắp miền Nam sau 30/4. Nạn nhân là các chiến sĩ quốc gia nhiều công trạng như Lê Trình ở Quảng Ngãi hôm 17/4, xã trưởng Túy ở Tân Quí Đông, Nhà Bè hôm 4/7, Thiếu Úy Lê Nhật Thanh ở Châu Đốc hôm 12/7, Lê Văn Hội hôm 19/6 ở quận Bình Hòa với những chứng cớ viển vông đến độ “quan tòa” cũng không thể kết án tử hình! Cha xứ nhà thờ Vinh Sơn ở đường Trần Q. Toản Saigon bị vu cáo và bắt đi thủ tiêu ..vv.. Một Đại úy viết báo tường do VC tổ chức trong một nhà tù ở Vĩnh Long đã dại dột khai thành tích thắng trận giết nhiều VC; tịch thu nhiều súng AK47 vẫn còn nguyên trong bọc mỡ bò hiện chôn dưới lòng sông. . . khúc. . .; thay vì được về sớm như mong đợi thì đã bị ra pháp trường ngay hôm sau! Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, cháu cố TT Ngô Đình Diệm, bị bắt tù giam ngoài bắc lâu năm; sau bị trục xuất sang Úc, nơi mẹ ngài tị nạn. 
10_ Kết Luận
https://baomai.blogspot.com/
Giậu đã đổ hôm 30/4/1975; chỉ còn hồn thiêng màu cờ tồn tại; nhưng bìm thì vẫn leo suốt 40 năm qua; thậm chí còn vươn cánh tay dài ra tận hải ngoại khắp 5 châu lục để ăn sâu bám rễ. Chúng núp danh nghĩa ngoại giao, kinh doanh, du lịch và tôn giáo để hoạt động kinh tài cho VC qua việc bòn rút hầu bao nạn nhân của chúng; những người từng bị VC cướp trắng tay 40 năm qua; từng bị giam hãm đọa đầy khổ sai nhục nhằn; thân nhân bị mất mạng trong rừng sâu nước độc có tên mỹ miều là “trại cải tạo” và vùng “kinh tế mới”; hoặc dưới đáy đại dương sâu thẳm mênh mông tăm tối. Nay bị chứng “dementia” hay thậm chí “Alzeimer” tự nhiễm nên có kẻ đã chóng quên bài học còn rướm máu; thậm chí còn manh tâm đón gió trở cờ để được VC cho chấm mút và làm tay sai.


Họ lợi dụng Dân Chủ để được bảo vệ trước pháp luật bản xứ; lợi dụng Tự Do bản xứ để chửi quân cán chính VNCH, những người đã hy sinh cho họ được an lành ấm no suốt 20 năm điêu linh ở miền Nam vì mưu đồ bán nước của CSBV. Họ đồng lõa với quan thầy VC trong âm mưu dìm hồn thiêng sông núi vào vũng bùn bồn rửa; bôi bác một tôn giáo đã có công sản sinh ra chữ quốc ngữ Việt và là nền tảng tạo dựng nên cường quốc đang cho họ dung thân phì gia! Họ có còn xứng đáng là con người; nhất là con người lưu vong biết tự trọng với căn cước tị nạn; không “nhổ rồi lại liếm” lời thề chống chủ nghĩa Cộng sản năm xưa khi xin tị nạn chính trị và thi vào quốc tịch bản xứ của chính mình? Hay họ chỉ muốn làm thân bìm hoang dại bám víu lên bức giậu xiêu vẹo để làm tiền mà sống tầm gửi?
Hà Bắc
(tham khảo tài liệu của Nayan Chanda, Tiziano Terzani, Pierre Darcourt, Bùi Tín, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Trương Như Tảng và các báo chí khác)

Cô dâu 62 tuổi báo mang bầu cho chồng trẻ

Trong một clip mới đây, cô dâu Thu Sao cho biết đã mang bầu và cho rằng đây là kì tích trong thời buổi hiện nay.

Cô dâu 62 tuổi bất ngờ báo mang bầu cho chồng trẻ, mong dân mạng chúc phúc cho kì tích-1

Trong clip livestream mới, cô dâu Thu Sao cùng chồng xuất hiện với vẻ ngoài rạng rỡ và phấn khởi. Bụng dưới của chị Thu Sao lớn bất thường. Riêng anh Hoa Cương, chồng chị Thu Sao liên tục cười và xoa bụng vợ.

Xem livestream trực tiếp, nhiều dân mạng bình luận yêu cầu hai vợ chồng trao nhau nụ hôn cho “thiên hạ ganh tị” nhưng cô dâu 62 tuổi từ chối.

“Ai lại hôn ở đây. Hôn ở đây con lại cười cho chết. Bây giờ có em bé rồi không hôn đâu… Tuổi này mà được làm mẹ thì phải gương mẫu, thật gương mẫu cho con chứ chồng nhỉ?”, chị Thu Sao quay sang nói với chồng, gián tiếp xác nhận đã mang thai.

Cô dâu 62 tuổi bất ngờ báo mang bầu cho chồng trẻ, mong dân mạng chúc phúc cho kì tích-2

 

Nói về hành động xoa bụng vợ của anh Cương, cô dâu 62 tuổi cho biết cánh đàn ông nên học tập nhau ở điểm này. Người phụ nữ cho rằng đây là hành động động viên vợ, làm cho đứa bé trong bụng thấy vui. Cô dâu Thu Sao tiết lộ thêm anh Cương ghen khi vợ đi công tác, không được xoa bụng bầu. 

Trong livestream, cô dâu 62 tuổi cũng đứng dậy để khoe bụng và dáng đứng của bà bầu. Người phụ nữ cho hay thèm đồ chua, bún chả trong thời gian mang thai.

Trước những bình luận ác ý, cô dâu Thu Sao lên tiếng “dằn mặt” ngay lập tức: “Tuổi người ta (62 tuổi) có một đứa con còn không chúc phúc cho người ta, cái tâm ác đấy giấu đi nhé!… Chị đến tuổi này là kì tích trong xã hội này rồi, nên các em chúc phúc cho bà già này còn hơn là rủa”.

Cô dâu 62 tuổi bất ngờ báo mang bầu cho chồng trẻ, mong dân mạng chúc phúc cho kì tích-3

Vợ chồng cô dâu Thu Sao – chú rể Hoa Cương kết hôn từ tháng 9/2018.Mẹ chồng của chị Thu Sao từng nói nếu có tình cảm thật thì con dâu phải cho anh Cương đi kiếm đứa con cốt nhục. Đến nay, chị đã có con, đáp lại mong mỏi của gia đình chồng.

Source Internet

More reading

Gã ăn mày triết học thành hiện tượng Internet Trung Quốc

Một người đàn ông vô gia cư tại Trung Quốc bỗng chốc trở nên nổi tiếng sau khi video quay cảnh ông nói về triết học được đăng tải lên trang mạng Douyin.

Tháng qua, các video về một người đàn ông được gọi với cái tên “Vagrant Shanghai Professor” (tạm dịch: Giáo sư lang thang tại Thượng Hải) tràn ngập trên Douyin, trang mạng xã hội chia sẻ video ngắn tại Trung Quốc. Những video này thu hút được hàng triệu lượt xem và lượt yêu thích từ cư dân mạng tại nước này.

Trên thực tế, đây không phải lần đầu tiên một người ăn xin bỗng chốc trở nên nổi tiếng tại Trung Quốc. 9 năm trước, một người đàn ông vô gia cư được biết đến với biệt danh “Brother Sharp” đã trở thành hiện tượng mạng nhờ vẻ ngoài điển trai và bụi bặm. Hiện nay, một người đàn ông vô gia cư khác đến từ Thượng Hải lại tiếp tục trở thành tâm điểm của Internet Trung Quốc với sự đĩnh đạc và khiêm tốn.

                                                    Mỗi khi Shen xuất hiện, mọi người liên tục giơ điện thoại quay video và chụp hình ông

Mọi chuyện bắt đầu từ video có nội dung một người ông vô gia cư thảo luận về văn học và triết học. Nó nhanh chóng đã lan truyền trên khắp các phương tiện truyền thông Trung Quốc. Video này thu hút được hàng triệu lượt xem chỉ sau 3 ngày. Người đàn ông này sau đó đã được cư dân mạng đặt cho biệt danh “Vagrant Shanghai Professor”.

Không lâu sau, hàng loạt thông tin cá nhân của ông bắt đầu được lan truyền trên Internet. “Vagrant Shanghai Professor” có tên thật là Shen Wei, 52 tuổi, sinh ra và lớn lên tại Thượng Hải. Shen được cho là từng làm công chức tại Văn phòng kiểm toán quận Từ Hối ở Thượng Hải, trước khi nghỉ ốm và bắt đầu rong ruổi trên khắp các con phố trong hơn 20 năm qua.

Một số tin đồn khác lan truyền trên mạng cho rằng Shen từng tốt nghiệp Đại học Fudan tại Thượng Hải. Ông đã trở thành một người có đầu óc mơ hồ sau khi vợ và con gái bị chết trong một vụ tai nạn xe hơi. Mặc dù Shen liên tục phủ nhận những tin đồn trên nhưng chúng vẫn xuất hiện dày đặc trên các bài báo và nhiều phương tiện truyền thông xã hội tại Trung Quốc.

Cũng từ đây, cuộc sống thường ngày của người đàn ông vô gia cư đã hoàn toàn thay đổi. Vài ngày sau khi video đầu tiên được đăng tải và trở thành hiện tượng, hàng trăm người bắt đầu tìm kiếm ông ở khu Gaoke West Road để có thể chụp ảnh cùng ông.

Hình ảnh và video về Shen bắt đầu tràn ngập trên Internet. Tất cả chúng đều cho thấy cảnh tượng Shen đang bị mọi người vây quanh và cầm điện thoại hướng vào mặt để quay video hoặc chụp hình.

Sự nổi tiếng bất ngờ đã gây cho Shen không ít phiền phức. Khi đám đông tập trung và trở nên quá ồn ào, cảnh sát Thượng Hải đã phải can thiệp và hộ tống Shen đến nơi an toàn. Tuy nhiên, mọi người vẫn tiếp tục chụp ảnh và cố chạm vào người ông. Thậm chí, một người phụ nữ còn giơ cao tấm biển bằng bìa cứng với dòng chữ “Tôi muốn kết hôn với ông”.

Cuộc sống của Shen hoàn toàn xáo trộn khi liên tục bị những người không quen biết làm phiền

 

Sự việc trên đã nhận phải nhiều phản ứng trái chiều từ cộng đồng mạng Trung Quốc và khiến nhiều người đặt câu hỏi sự cường điệu đến mức lố bịch này bắt nguồn từ đâu.

Cư dân mạng Trung Quốc cho rằng những người tìm kiếm chụp hình ông không thật sự quan tâm Shen là ai, họ đang thèm khát những lượt xem, lượt bình luận về những bức ảnh chụp được. Những người này chỉ đang cố kiếm được thật nhiều lượt thích để thỏa mãn mong muốn của họ.

“Những ‘người hâm mộ’ nên để Shen một mình như điều ông ấy mong muốn thay vì làm ảnh hưởng đến cuộc sống riêng. Họ đang khiến ông ấy phải rời khỏi con đường mà ông từng gọi là nhà”, một ý kiến được đăng tải trên Weibo.

“Đây là góc nhìn của tôi. Những người đang chụp hình đều là những người ăn xin, họ cầu xin lượt thích”, một người bình luận trên Weibo.

“Xã hội này phát điên rồi. Dù bạn không muốn nhưng họ vẫn bắt ép bạn phải nổi tiếng”, một người khác bình luận.

Source: Internet

Đà Lạt, Từ Chợ Cây xưa đến rạp Hòa Bình nay

Đà Lạt,

Từ Chợ Cây xưa đến rạp Hòa Bình nay

Source: Internet

Khu Hòa Bình là trung tâm mua sắm lớn nhất của phố núi du lịch Đà Lạt, trở thành ký ức đô thị của bao thế hệ người Đà Lạt và cả du khách xa gần.

“Chợ Cây” được xây lại sau vụ cháy năm 1931 – Ảnh: Tư liệu

“Chợ Cây” thời sơ khai

Trước khi xây dựng Chợ Đà Lạt ngày nay, Đà Lạt có “Chợ Cây” tọa lạc tại vị trí rạp chiếu bóng Hòa Bình. Cụ Lê Phỉ (93 tuổi), người có nhiều năm sống tại Đà Lạt và nghiên cứu về thành phố này, cho biết Đà Lạt thời sơ khai có một ngôi chợ nhỏ tự phát tọa lạc tại vị trí ấp Ánh Sáng ngày nay.

Ấp Ánh Sáng tập trung chủ yếu những người Việt từ Huế vào Đà Lạt lập nghiệp sống quần tụ bên nhau. Đến năm 1929, khi dân số Đà Lạt lên hơn 2.000 người, thì công sứ Chassaing đã cho dời ngôi chợ này lên trên ngọn đồi thoai thoải mà ngày nay gọi là khu Hòa Bình. Ban đầu, chợ được làm bằng cây rừng và ván gỗ xẻ từ những cánh rừng xung quanh và lợp mái tôn nên người dân gọi tên là “Chợ Cây”.

Chợ Cây Đà Lạt xưa – Ảnh: ẢNH: TƯ LIỆU

Từ đó, Chợ Cây trở thành trung tâm của Đà Lạt, là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa tấp nập của cư dân Pháp, Việt sinh sống tại phố núi. Chợ đi vào hoạt động được thời gian ngắn, một cuộc hỏa hoạn lớn đã thiêu rụi toàn bộ chợ vào năm 1931.

Sau đó, năm 1937 khi dân số Đà Lạt tăng lên hơn 6.500 người, chính quyền đương thời cho thiết kế và xây dựng lại một ngôi chợ mới bằng gạch đá khang trang ngay tại vị trí ngôi chợ bị cháy, nhưng người dân vẫn quen gọi là “Chợ Cây”. Nhà thầu SIDEC đảm nhận thi công, còn ông Đinh Bạng, một người Việt gốc Huế sống ở hẻm xóm Lò vôi (Trần Nhật Duật ngày nay), trúng thầu phần làm giàn giáo để xây chợ.

Cụ Lê Phỉ cho biết thêm, lúc đó mặt tiền ngôi chợ có gắn nổi huy hiệu thành phố Đà Lạt hình tròn. Huy hiệu tạc hình đôi thanh niên nam nữ người dân tộc bản địa; người nữ mang gùi, còn người nam tay cầm ngọn giáo nhắm vào một con cọp. Bên dưới huy hiệu có một câu cách ngôn bằng tiếng Latin chiết tự thành danh xưng DALAT: Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem (có nghĩa là cho người này niềm vui, cho người khác sự mát mẻ).

Chợ Cây tuy không lớn nhưng Họa báo Châu Á mới (L’ Asie nouvelle illustreé), số 56, xuất bản năm 1937 đã có bài viết về ngôi chợ này với nhận xét “Ngôi chợ này tuy kiến trúc giản dị, nhưng rất độc đáo”.

Rạp chiếu bóng Hòa Bình ngày nay – Ảnh: Lâm Viên

Đến rạp chiếu bóng Hòa Bình

Từ năm 1954, với làn sóng di dân từ miền Bắc, miền Trung vào Đà Lạt ngày càng nhiều, Đà Lạt trở nên đông đúc với số dân hơn 53.000 người. Do đó, chính quyền sở tại nghĩ đến việc phải xây dựng một ngôi chợ lớn hơn, hiện đại hơn, đồng thời chỉnh trang lại khu vực Chợ Cây.

Năm 1958 Thị trưởng Đà Lạt Trần Văn Phước quyết định chọn vùng đất trống sình lầy dưới thung lũng cạnh Chợ Cây để xây dựng chợ mới có 2 tầng và một sân thượng. Một nhóm kiến trúc sư từ Sài Gòn được mời để thiết kế do kiến trúc sư Nguyễn Duy Đức đứng đầu, công trình này do nhà thầu Nguyễn Linh Chiểu đảm nhận thi công.

Chỉ sau 2 năm xây dựng, năm 1960 Chợ Mới Đà Lạt hoàn thành và đưa vào sử dụng, đây là ngôi chợ lầu đầu tiên ở VN. Lúc này, “Chợ Cây” đã hoàn thành sứ mạng nên được các kiến trúc sư thiết kế cải tạo thành rạp chiếu bóng Hòa Bình.

Ông T.L.T (người Việt gốc Hoa, sống tại P.1, Đà Lạt) cho biết: “Khi Chợ Mới Đà Lạt đi vào hoạt động, chính quyền lúc đó cho đấu thầu cải tạo Chợ Cây thành rạp chiếu phim, nhưng vẫn buộc giữ nguyên kiến trúc”.

Ông T. cho biết thêm, một số người Hoa sinh sống, buôn bán tại Đà Lạt đã hợp tác với nhau lập Công ty Hòa Bình để nhận thầu cải tạo Chợ Cây thành rạp xi-nê (chiếu phim) Hòa Bình. Chính quyền cho phép khai thác kinh doanh trong 25 năm. Việc cải tạo biến chợ thành rạp chiếu bóng khá nhanh, cha ông T. là thành viên của Công ty Hòa Bình và cũng là người cung cấp vật liệu xây dựng cải tạo chợ.

Để bù đắp một phần chi phí đầu tư vào rạp chiếu bóng, chính quyền cho phép Công ty Hòa Bình xây dựng dãy ki ốt dọc hai bên rạp để bán đồng hồ, mắt kính… và phần sau của rạp có đường luồn, hai bên bố trí các quầy bán hàng mỹ phẩm. Các ki ốt, quầy hàng được Công ty Hòa Bình cho người Ấn Độ, người Hoa, và người Việt thuê.

Rạp xi-nê Hòa Bình với 800 chỗ ngồi khá hiện đại, có sân khấu khá rộng, cùng các quầy, sạp bao quanh đã tạo nên bộ mặt mới và cùng với Chợ Mới Đà Lạt tạo “điểm nhấn” cho đô thị Đà Lạt từ thập niên 60 thế kỷ 20.

Sau ngày đất nước thống nhất, rạp Hòa Bình được đổi tên thành rạp 3 Tháng 4 (ngày giải phóng Đà Lạt), nhưng tên gọi khu Hòa Bình vẫn tồn tại cho đến tận hôm nay, là một phần ký ức của người dân Đà Lạt.

                Lâm Viên


More reading

Cần trả lại sự thật cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu

Cần trả lại sự thật cho

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Mail forwarded by Thanh Nguyen <T…….@gmail.com>
Source:
Chauxuannguyen2019.org

Cần trả lại sự thật cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sau 30/4/1975 Mỹ mở chiến dịch đổ tội làm mất nước cho Tổng Thống Thiệu để cho người ta không oán hận Mỹ đã bỏ rơi VNCH. Giờ đây đã 44 năm trôi qua, nếu người Mỹ không lên tiếng giải oan cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, thì cũng nên trả lại sự thật cho lịch sử.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho tới trước khi chết Ông vẫn cúi đầu nhận chịu trách nhiệm đã làm cho mất nước, một lỗi lầm quá to lớn mà cá nhân một người không thể nào gánh vác. Nếu có một người nào đó đứng ra nhận chịu thì quả là vô lý, thế nhưng Ông Nguyễn Văn Thiệu đã làm.

Kể từ ngày lập quốc, nước Mỹ thực sự sụp đổ vào năm 1975 với 3 triệu cựu chiến binh tại chiến trường Việt Nam, 58 ngàn người đã chết, và 3.000 quân nhân còn mất tích. Xã hội Mỹ phân hóa trầm trọng với tranh cãi đổ lỗi cho nhau.

Chính vì vậy mà những người quân nhân VNCH không bao giờ động chạm tới nỗi đau của người bạn chiến đấu Mỹ, họ đã làm hết sức của họ rồi, họ đã phải chết tới 58.000 người và đã hao tốn 300 tỉ USD, lại còn phải nuôi 3 triệu cựu chiến binh Mỹ mà người nào cuộc đời cũng tan nát do bị khủng hoảng, bị thất bại vì không thể trở lại trường để làm lại cuộc đời.

Hai chữ “Bỏ Rơi” là do BBC và RFI dùng để xoa dịu sự oán hận của người Việt sau khi Mỹ cắt ông tiếp huyết cho VNCH. “Bỏ Rơi Đồng Minh” khác với “Phản Bội Đồng Minh”. Bỏ Rơi có nghĩa là tôi thích thì tôi giúp, khi thấy mệt mõi quá thì tôi không giúp nữa. Còn Phản Bội là phỉnh gạt, lừa đảo. Cho nên người Mỹ muốn nhận là họ Bỏ Rơi VNCH còn hơn là nhận Phản Bội VNCH.

Năm 1968 anh sinh viên Frank Snepp quyết định làm đơn xin đầu quân vào CIA để tránh khỏi phải đi lính và chiến đấu tại VN. Năm 1969 Snepp bắt đầu làm viêc tại chi nhánh CIA tại Sài Gòn trong tư thế một nhân viên mới vào nghề. Năm 1971 ông trở về Trung tâm CIA tại Mỹ với nhiệm vụ phân tích những tin tức thu thập từ báo chí của Bắc Việt.

Đến năm 1972 ông bị đày đi VN vì tội đã báo trực tiếp cho Tòa Bạch Ốc một thông tin ông đọc được trên báo của Hà Nội mà không qua các xếp lớn của CIA. Nhiệm vụ lần thứ hai của Frank Snepp tại Việt Nam là đọc báo và nghe đài phát thanh của CSVN và VNCH để trình cho Polgar, trưởng CIA tại Sài Gòn, những tin nào mà ông ta thấy đáng quan tâm.

Sau biến cố 1975 Frank Snepp quyết định viết thành sách về những gì ông chứng kiến trong vai trò một nhân viên CIA làm việc tại VN trong giai đoạn Hoa Kỳ cuốn cờ ra khỏi Việt Nam. Nhờ đó ông nhanh chóng trở thành nhân chứng sống duy nhất dám tiết lộ những bí mật mà một nhân viên CIA không được phép tiết lộ.

CIA đã đưa ông ra tòa vì ông đã hành động trái với lời tuyên thệ khi ông bước chân vào tổ chức CIA. Tòa án đã phán quyết Frank Snepp không bị tội tiết lộ bí mật nghiệp vụ nhưng cũng quyết định cho thu hồi quyển sách “Decent Interval” của Frank Snepp. Tuy nhiên phán quyết này chỉ có hiệu lực hình thức bởi vì cả thế giới đều đã đọc Decent Interval..

Theo Frank Snepp thì mọi chuyện đều bắt đầu từ khi ký kết Hiệp Định Paris. Rồi 3 tháng sau khi ký kết Hiệp Định, Tổng Thống Nixon cử Martin làm đại sứ Mỹ tại VN thay Bunker. Frank Snepp mô tả vai trò của Đại sứ Martin: “Mỹ buộc phải bỏ khỏi Việt Nam trong tư thế đường hoàng, và muốn tạo được ấn tượng như vậy thì cần phải có một chuyên gia về ảo thuật và kịch nghệ mà Martin thuộc vào hạng sư phụ. (Trang 75, nguyên văn: “The United States was obliged to crawl out of Vietnam standing up, and to foster that illusion required the kind of conjuring and stagecraft at which Martin so adept”). Như vậy màn kịch bỏ rơi Việt Nam đã được lên giàn từ tháng 4 năm 1973.

Năm 1974 giữa năm, Tổng Thống Mỹ Nixon đệ trình Quốc Hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô. Đến lúc này Quốc Hội Mỹ mới biết rằng đây là cái giá mà Nixon đã trả cho việc Liên Xô ngưng cung cấp vũ khí cho Hà Nội và ép Hà Nội phải ký hiệp ước ngưng bắn 1973. Dĩ nhiên khi đưa ra trước Quốc hội, Nixon tin rằng sẽ được thông qua dễ dàng vì lợi ích chung của cả hai nước, nhất là từng bước giải quyết chiến tranh lạnh là điều mà dân chúng Hoa Kỳ mong chờ.

Tuy nhiên ông đã tính lầm, Quốc Hội Mỹ đoán rằng còn nhiều cái giá khác nữa giữa Nixon và Liên Xô, Trung Quốc, Hà Nội vào năm 1972. Vì vậy Quốc Hội bác bỏ thẳng thừng hiệp ước thương mại Xô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác. Dĩ nhiên là Nixon không đưa ra, ông dùng đặc quyền hành pháp để từ chối.

Vì vậy Quốc Hội có một cách khác để moi ra những gì mà Nixon đã cam kết với LX, TQ và Hà Nội vào năm 1972; đó là cách lợi dụng vụ Watergate để triệu tập một Ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén, nhờ đó công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và cả Hà Nội.

Nixon chỉ còn có cách từ chức để né tránh Ủy ban điều tra bởi vì ông và Kissinger đã có những thỏa thuận mật với đối phương mà không xin phép Quốc Hội. Một khi ông từ chức thì những cam kết của ông trở thành vô hiệu lực. Quốc Hội sẽ không còn cớ để truy xét.

Sau khi Nixon từ chức thì Quốc Hội Hoa Kỳ cho thông qua đạo luật cấm HK buôn bán với các nước Cộng Sản vào cuối năm 1974 (Đạo luật Jackson-Vanik). Sự trở mặt của Quốc Hội Mỹ đã khiến Liên Xô tức giận bởi vì những cam kết của Nixon khi ông ta viếng thăm Liên xô vào năm 1972 đã không được thi hành. Vì vậy, cuối năm 1974, Đại Tướng Kulikov của Liên Xô đến Hà Nội để xúi Hà Nội đưa quân đánh chiếm Miền Nam, Liên Xô sẽ cung cấp vũ khí và chiến phí.

Theo như 7 mục, 23 điều khoản của Hiệp Định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô kiện, trao trả tù binh VNCH để đổi lại VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt. Trong khi đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của mặt trận GPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ.

Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam Việt Nam. Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp Định Geneve 1954.

Nhìn bề mặt của Hiệp Định Paris quá vô lý cho nên giới quan sát quốc tế thừa biết bên trong phải có một mật ước riêng. Quả nhiên sau này vào năm 1977 Tổng Thống Jimmy Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp Định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp Định Paris 1973. Vào tháng 10 năm 1988 Hà Nội cho công bố toàn văn bản mật ước Nixon & Phạm Văn Đồng.

Theo đó thì Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho Bắc Việt 3,25 tỉ USD và viện trợ phát triển kinh tế cho Hà Nội 1,5 tỉ USD. Trong vòng 30 ngày sau khi người tù binh HK cuối cùng rời khỏi VN thì hai bên sẽ thiết lập xong hệ thống viện trợ tái thiết, và trong vòng 60 ngày sau đó thì lập xong hệ thống viện trợ phát triển kinh tế.

Bản mật ước do đích thân Kissinger mang tới Hà Nội cho Phạm Văn Đồng ký nhận. Từ đó Lê Duẩn ngày đêm trông chờ món tiền của Kissinger và đến cuối năm 1974, Liên Xô cử tướng Kulikov sang Hà Nội xúi Lê Duẩn đánh chiếm Miền Nam thì có nghĩa là Hiệp Định Paris coi như tờ giấy lộn. Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào, suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hằng triệu người chết, hằng chục tỉ đô la nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không (sic).

Tướng Kulikov xúi Hà Nội phát động chiến tranh trở lại nhưng Lê Duẩn và tập đoàn lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt. Dân chúng Miền Bắc đã kiệt sức, trong 5 năm nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng, bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16, tại Miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa… thì lấy đâu để gây chiến tranh trở lại.

*(Theo hồi ký của tướng CSVN Hoàng Văn Thái thì cho tới năm 1974 Hà Nội đã động viên đến 16% dân số, không thể nào động viên thêm được nữa. Trong khi Miền Nam là 5,88%)

Bắt đầu từ năm 1975 Đại Tướng Cao Văn Viên viết tường trình cho Ngũ Giác Đài về những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam nhưng đến năm 1983 mới được in thành sách với tựa đề “The Final Collapse” và hai mươi năm sau, 2003 The Final Collapse được nhà nghiên cứu sử Nguyễn Kỳ Phong dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa”. Trong sách có kèm theo những chú giải mới nhất của Đại Tướng Cao Văn Viên. “Một sự thực không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6 năm 1975…” (Tài liệu của Ngũ Giác Đài: Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 136).

Năm 1974 tháng Giêng, theo tài liệu của CIA: “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” (Frank Snepp, Decent Interval, trang 95).

Tướng John Murray là Tư Lệnh cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.. Ông đến Việt Nam sau Hiệp Định Paris 1973, sang đầu năm 1974 ông và Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ tại Việt Nam phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975. Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là có thể dưới 700 triệu đô la nhưng theo các chuyên viên tham mưu của John Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4.

Năm 1974 cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8 John Murray họp buổi họp chót với Đại Tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng), Tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận) và một số tướng lãnh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2 và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

Năm 1974 tháng 5, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng (Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch của VNCH) thì ông đã tình cờ trông thấy bản kế hoạch “Cắt Đất Theo Lượng Viện Trợ” của Murray nằm trên bàn của Tổng Thống Thiệu vào tháng 5 năm 1974, nghĩa là 2 tháng trước khi Nixon từ chức. Như vậy Murray chính là tác giả của kế hoạch bỏ Vùng 1, Vùng 2 vào năm 1975, một kế hoạch mà cho tới 40 năm sau người ta vẫn cho là sáng kiến (tối kiến) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Sự thực Tổng Thống đã bị báo chí Mỹ cố tình gieo tiếng oan mà lúc đó Ông không thể lên tiếng thanh minh.

Năm 1974, ngày 24-12: Theo hồi ký của Đại Tá Phạm Bá Hoa “Ngày 24-12-1974, lúc quân CSVN đang tấn công Phước Long sang ngày thứ 10; một buổi tiệc mừng Giáng Sinh được Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, tổ chức trên lầu của Câu lạc Bộ trong BTTM”. Khách tham dự gồm có Tướng Smith (Chỉ Huy Trưởng cơ quan quân sự HK tại VN; Tướng Quân Y Phạm Hà Thanh; Tướng Công Binh Nguyễn Văn Chức; Đại Tá Phạm Kỳ Loan (Tổng Cục Phó Tiếp Vận); Đại Tá Phạm Bá Hoa (Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận); Đại Tá Pelosky (Phụ Tá của Tướng Smith); Trung Tá Nguyễn Đình Bá (Chánh Văn Phòng của Tướng Khuyên).

Tướng Smith tiết lộ rằng: “Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu đollar để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” (Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, Bản in lần 4, trang 264). Khi sách của Phạm Bá Hoa phát hành thì tất cả các nhân vật trong bữa tiệc đều còn sống mạnh khỏe nhưng không ai phản đối, kể cả Tướng Smith; chứng tỏ chuyện này hoàn toàn có thật.

Như vậy là kịch bản bỏ rơi Miền Nam đã được lên giàn trước khi mất Phước Long chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột. Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6 năm 1975, kể cả ước tính trước ngân sách chi dụng cho kế hoạch.

Năm 1975, ngày 7-1: Phản ứng của Mỹ sau khi mất Phước Long là: “Nhà Trắng nói rằng: Tổng Thống Ford không có ý vi phạm những điều cấm chỉ (của Quốc Hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam” (Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, trang 161). Khi vừa nghe tin này Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Cho kẹo quân Mỹ cũng không dám trở lại VN”(trang 146).

Ngay sau khi nhận được tin, Lê Duẩn chỉ thị cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái lên kế hoạch tiến chiếm miền Nam: “Một tháng sau chiến thắng Phước Long, ngày 5 tháng 2, anh Văn Tiến Dũng lên đường vào Tây Nguyên” (Hoàng Văn Thái, trang 172).

Ngày đó cơ quan USIS của CIA tung tin quân VNCH thua tại Phước Long là do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cố tình bỏ Phước Long để thử xem phản ứng của Mỹ.

Sở dĩ CIA đổ cho Nguyễn Văn Thiệu
là để Quốc Hội Mỹ có cớ biểu quyết ngưng viện trợ quân sự
cho VNCH

-Tuần đầu của tháng 3 năm 1975. Trong một cuộc họp đầu tuần của Bộ Ngoại Giao HK, Kissinger đã giải thích hành động viện trợ “Lấy Có” cho Cam Bốt: “Chính Phủ Lon Nol đang trên đà sụp đổ, đây là nguyên do chính khiến chúng ta phải tiếp tục viện trợ để cho sau này không ai có thể trách chúng ta vô trách nhiệm”. (Frank Snepp, Decent Interval, trang 175). *(Nguyên văn: “…he say, the Lon Nol Government was on the brink of collapse, it was essential to keep open the aid pipeline so no one could later blame the United States for the disaster”).

– Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức Ngoại Giao HK trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông: “Hãy làm mọi cách để Quốc Hội tiếp tục duy trì viện trợ (Lấy Có) cho Cam Bốt và Việt Nam. Không phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” (Frank Snepp, Decent Interval trang 176). *(Nguyên Văn: Do every thing possible to ensure that Congress lived up our aid commitments to Cambodia and Vietnam- not because the two countries were necessarily salvageable, but precisely because they might not be).

Hai ngày sau khi Kissinger nói câu này thì Văn Tiến Dũng ra lệnh tấn công Ban Mê Thuột.

Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng Việt Nam sụp đổ do không còn viện trợ. Và với mức độ viện trợ nhỏ giọt thì đến ngày 30-6-1975 quân đội VNCH sẽ không còn Gạo và không còn Đạn (Tài Liệu The Final Collapse của Đại Tướng Cao Văn Viên). Vì thế Kissinger mong cho Quân đội VNCH tự tan rã trước khi hết Gạo và Đạn trước tháng Sáu năm 1975. Lúc đó thiên hạ sẽ nghĩ rằng Quân Đội Sài Gòn đã thua chạy trước sức tiến công vũ bão của quân Hà Nội.

Năm 1975 ngày 11-3, một ngày sau khi mất Ban Mê Thuột. Theo Đại Tướng Cao Văn Viên “Ngày 11-3 Tổng Thống Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại Dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975”. Tướng Viên ghi lại cảm nghĩ của ông lúc đó: “Quyết định của Tổng Thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng. Hình như Tổng Thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”

*“… Tổng Thống Thiệu phác họa sơ: …Một vài phần đất quan trọng đang bị Cộng Sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi gía…Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại…” (Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131).

“Ngay sau khi Phước Long bị tấn công, Hoa Kỳ không có một phản ứng nào … . Một thực tế gần như hiển nhiên là Hoa Kỳ không muốn cuộc chiến tiếp tục và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc” (trang 132).

Henry Kissinger viết trong hồi ký của ông:
“Cho đến hôm nay tôi kính trọng ông Thiệu như là một gương hào hùng của một kẻ dám chiến đấu cho nền tự do dân tộc của ông, một kẻ sau này đã chiến bại bởi những hoàn cảnh ngoài tầm tay cá nhân ông, đất nước ông và ngay cả ngoài vòng quyết định của chúng ta…” ( Henry Kissinger, Years of Upheaval, 1981, Bản dịch của Xuân Khuê)

Kissinger là người mà T.T. Nguyễn Văn Thiệu ghét cay ghét đắng cho tới khi xuống mồ. Trong khi ngược lại, Kissinger cũng làm ra vẻ ghét cay ghét đắng T.T. Nguyễn Văn Thiệu, kẻ mà báo chí và nhân dân Mỹ luôn luôn nguyền rủa là cản trở và phá hoại hòa bình.

Tuy nhiên cuối cùng, khi mà hòa bình đã đạt được bằng cái giá phản bội dân tộc Việt Nam, Kissinger mới bình tâm thú thực cảm nghĩ của ông ta về người anh hùng lãnh đạo đất nước Việt Nam trong thời gian gay cấn nhất của lịch sử. Kissinger nói :

“… Sau khi ngưng bắn, quân đội chúng ta sẽ rút về bên kia bán cầu, còn dân tộc của ông vẫn còn cảnh một đội quân tiếp tục hy sinh cho những hy vọng mong manh của nền độc lập tại Đông Dương. Chúng ta đã chắc rằng biện pháp của chúng ta sẽ kềm hãm tham vọng của Hà Nội. Nhưng mắt của ông T.T. Thiệu chỉ quan ngại vào những điều mong manh về sau này…” ( Bản dịch của Xuân Khuê ).

Kissinger cũng thú thực là vì không còn cách lựa chọn nào khác cho nên Mỹ đành phải hy sinh Nam Việt Nam, và cũng vì vậy mà Kissinger đành phải đóng vai làm kẻ thù của T.T. Nguyễn Văn Thiệu nhưng tự sâu xa trong đáy lòng, Kissinger khâm phục T.T. Thiệu :

“…Như là một phép lạ phát xuất từ lòng dũng cảm, ông Thiệu đã cố gắng lèo lái quốc gia trong giai đoạn cam go này, chiến đấu chống lại quân thù cố tâm xâm lấn và làm an tâm đồng minh nào chưa thông hiểu ông …

… Về riêng tư tuy tôi dành ít cảm tình về ông T.T. Thiệu nhưng tôi rất kính nể ông vì ông là một người kiên tâm chiến đấu trong nỗi cô đơn ghê gớm ( nguyên văn: terrible loneliness ) sau cuộc rút quân của Hoa kỳ. Ông chấp nhận những cảm tình và thông hiểu ít ỏi dành cho ông. Chuyện đó không làm phẩm chất của ông hao mòn đi…” ( Bản dịch của Xuân Khuê ).

Ngày 22-10-1972 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nổi giận khi Kissinger ép buộc ông phải chấp nhận bản dự thảo Hiệp định đình chiến mà Kissinger đã cùng Lê Đức Thọ soạn thảo tại Paris. Ông khuyến cáo Kissinger :

“Tôi không đồng ý về việc một số nhân viên của quý vị đi nói khắp Sài Gòn là tôi đã ký. Tôi chưa ký kết gì cả. Tôi không phản đối hòa bình nhưng tôi chưa nhận được một trả lời thỏa đáng nào của quý vị cho nên tôi sẽ không ký”.

Kissinger mất bình tỉnh với tuyên bố của Tổng thống Thiệu, ông nói ông đã thành công ở Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và Paris mà bây giờ ông phải thất bại tại Sài Gòn : “Nếu ngài không ký, chúng tôi sẽ xúc tiến một mình”.

Tới phiên Thiệu nổi giận, ông buộc tội Kissinger là thông đồng với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa để bán đứng Miền Nam. Hồi ký của Kissinger ghi lại lời lẽ của Thiệu:

“Là một quân nhân thì lúc nào cũng phải chiến đấu, nếu tôi không phải là một quân nhân thì tôi đã từ chức khi HK yêu cầu tôi từ chức và còn mặc cả với tôi về ngày giờ từ chức… … Tôi chưa hề nói với ai là người Mỹ đã đòi tôi từ chức, vì như vậy là nhục; cho nên tôi đã làm như tự mình chọn lấy quyết định đó…” (Kissinger, White House Years, trang 1385).

Kissinger đáp lại : “Tôi cảm phục tính hy sinh và lòng can đảm của ngài qua lời phát biểu vừa rồi. Tuy nhiên, là một người Hoa Kỳ, tôi không khỏi phiền lòng khi ngài cho rằng chúng tôi thông đồng với Liên Xô và Trung Quốc.

Làm sao ngài có thể nghĩ như vậy được trong khi quyết định ngày 8-5 của Tổng thống Nixon ( Thả bom Hà Nội và phong tỏa các hải cảng Bắc Việt ) đã liều cả tương lai chính trị của mình để giúp quý ngài. Chúng tôi điều đình với Liên Xô và Trung Quốc là để làm áp lực, buộc họ phải làm áp lực với Hà Nội… Nếu như chúng tôi muốn bán đứng quý ngài thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó…”( Kissinger, White House Years, trang 1385, 1386 ).

Rồi tới phiên Đại sứ Bunker mất bình tỉnh : “Vậy thì thưa Tổng thống, lập trường chót của ngài là không ký, có phải không?”

T.T. Thiệu đáp : “Vâng, đó là lập trường cuối cùng của tôi. Tôi sẽ không ký và tôi xin ngài thông báo cho Tổng thống Nixon biết như thế. Xin quý vị trở lại Washington và nói với Tổng thống Nixon rằng tôi cần được trả lời”.

Tổng thống Thiệu chỉ tay vào bản đồ Việt Nam rồi nói : “Có gì quan trọng khi Hoa Kỳ để mất một quốc gia nhỏ bé như Nam Việt Nam? Chúng tôi không hơn gì một chấm nhỏ trên bản đồ của thế giới đối với các ông… … Nhưng đối với chúng tôi, đó là một sự chọn lựa giữa sự sống và sự chết.

Đối với chúng tôi, đặt bút ký vào một hiệp ước tương đương với sự đầu hàng là chấp nhận một bản án tử hình, vì cuộc sống không có tự do là sự chết. Không, nó còn tệ hơn là sự chết” ( Larry Berman; No Peace, No Honor; trích từ Văn khố Bộ ngoại giao HK, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 230 ).

Sau 1975 thì người Mỹ muốn lái sự oán hận mất nước của nhân dân Miền Nam vào ông T.T. Nguyễn Văn Thiệu và quân đội VNCH để quên đi hành động “bán đứng đồng minh” của Mỹ *( Lời của ông T.T. Nguyễn Văn Thiệu nói thẳng vào mặt Kissinger năm 1972 ). Họ vận động các phương tiện truyền thông tiếng Việt tại hải ngoại kết án ông Thiệu làm cho mất nước. Họ kết án quân đội VNCH hèn nhát, tham nhũng v.v,… Họ dập tắt tiếng nói thanh minh của ông Thiệu và của những quân nhân VNCH. Họ thuê bọn vô lại biến phong trào chống Cọng sản tại hải ngoại thành những trò thối tha vô liêm sỉ….!

Hằng năm cứ vào mùa tháng Tư thì các phương tiện truyền thông tiếng Việt như RFA, BBC, …lại rộn lên những luận điệu kêu gọi hòa hợp hòa giải giữa chế độ CSVN và những người đã bị đuổi chạy ra nước ngoài. Họ coi những người rượt đuổi và những người bị đuổi đều tội lỗi như nhau.

Trong khi đó cuộc chiến Nam Bắc Hàn cũng giống hệt như cuộc chiến Việt Nam. Nhưng ngày nay RFA, BBC… nói cho con cháu Nam Hàn rằng năm 1950 quân Bắc Hàn tràn qua vĩ tuyến 38 đánh chiếm Nam Hàn. Quân đội Mỹ đã giúp nhân dân Nam Hàn đẩy lui quân Bắc Hàn về Bắc. Tội lỗi đều là phía Bắc Hàn chứ phía Nam Hàn không có lỗi.

Nhưng đối với cuộc chiến Việt Nam thì quân Bắc Việt cũng tràn qua vĩ tuyến 17 đánh chiếm Miền Nam nhưng Mỹ lại nói : Phía CSVN và phía VNCH đều có lỗi cho nên Mỹ đứng giữa không biết giúp bên nào !! Cho tới nay cũng chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái.

Cũng vì chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái cho nên cho tới nay danh dự của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa được phục hồi. Người Mỹ vẫn muốn con cháu Việt Nam nhìn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu như là một kẻ luôn luôn cản trở và phá hoại hòa bình.

Bùi Anh Trinh