Dưới bóng mát của lá cờ “ba que”

Internet

Hoàng Ngọc Mai – Bài nầy tôi muốn nói cho những kẻ cứ mỗi lần vén hai cái mép mồm lên nói là phát ra tiếng “Ba Que”.

Theo tôi thấy, thì những kẻ hay dùng cái từ 3/// đó thường còn trẻ, đa số chưa đến 60, có nghĩa là vào năm 1975 chỉ còn là con nít. Còn những người lớn tuổi hơn, thậm chí cả đảng viên, họ cũng nói một cách khác. Ngay cả từ Ngụy Quân và Ngụy Quyền cũng đã được chính thức gỡ xuống.

Cho rằng họ là những kẻ “chiến thắng” một cuộc chiến đi, nhưng tâm lý mặc cảm thua kém của họ vẫn thể hiện qua rất nhiều mặt. Những giá trị của xã hội thời VNCH vẫn còn đó, làm cho kẻ chiến thắng ăn ngủ không yên. Hằng triệu người Bắc di cư vào Nam, sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Hằng triệu người khác vượt biển Đông để từ bỏ chế độ CS sau chiến thắng 1975.

Rồi sau 1975, bao nhiêu triệu người miền Bắc lũ lượt kéo vào miền Nam làm việc và sinh sống. Hà Nội là thủ đô, được đảng CS chăm sóc trước miền Nam những 30 cơ mà? Sao không có làn sóng dân Nam kéo về Hà Nội? Đảng tuyên truyền rằng nhờ Mỹ đổ tiền vô nên miền Nam phồn thịnh! Sao lại bảo là Mỹ ác lắm đem quân vô giết dân Việt.

Điều nào đúng? – Cả hai điều sai !

Nói rằng thiên nhiên miền Nam trù phù hơn. Đó là ngụy biện hoặc là dốt nát. Kart Marx đã sai lầm cơ bản ở điểm nầy khi xây dựng lý thuyết Cộng Sản. Theo lý thuyết đó, đất đai và phương tiện sản xuất là suối nguồn của sự giàu có, nên CS không cho tư nhân có quyền sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất.

Nhưng thật ra sự phong phú nằm nơi con người, đất nước nào biết chăm sóc và trân trọng con người, đất nước đó sẽ hưởng được sự thịnh vượng. Hãy so sánh Nam và Bắc Hàn. Nam Việt và Bắc Việt cũng không ngoại lệ.

Miền Nam lúc nào cũng bị quân CS đánh phá và khủng bố, chính quyền dân chủ non trẻ với nhiều CS nằm vùng, mà vẫn xây dựng được cuộc sống hài hòa cho người dân. Phát triển mọi mặt từ kinh tế, giao thông công cộng, y tế , giáo dục… Đó là lý do tại sao miền Nam thịnh vượng. Và cái trình độ dân trí đó đã kéo miền Nam vượt lên hẳn so với Hà Nội.

Rồi những người miền nam liều mình vượt biển để tìm con đường sống trong cái chết. Nếu chẳng may bị bắt trở lại thì bị tù đầy với tội danh là “phản quốc”. Khi họ ổn định cuộc sống nơi nước ngoài, gửi những đồng tiền do chính sức lao động của họ về cho thân nhân ở trong nước thì  đảng lại gọi họ là “kiều bào”, “khúc ruột ngàn dậm”, nghe sự nịnh nọt trơ trẻn mắc ói! Còn mấy cái mồm tuyên truyền thì kêu đi ra nước ngoài ăn bơ thừa sửa cặn…Nhờ những đồng tiền “bơ thừa sửa cặn” đó mà kinh tế VN vượt qua thời kỳ khô cằn do đường lối kinh tế XHCN, mọi thứ đều quốc doanh hóa, nhà nước quản lý hết….Đến lúc hết thở, nên nhà nước hết hồn, đành buông xả ra gọi là “đổi mới” !

Qua đó, có phải cái bóng mát của VNCH vẫn che cho dân trong những lúc khó khăn đó đến ngày hôm nay?

Vậy đó, Cộng Sản Bắc Việt vi phạm những hiệp ước quốc tế để giành chiến thắng nhưng những giá trị Nhân Bản của VNCH càng lúc càng âm ỉ đốt nóng những trái tim Việt Nam.

Các người cứ dùng lời lẽ sất xược để tỏ vẻ khinh miệt người khác càng làm lộ rõ các người dốt nát và kém văn hóa mà thôi. Cộng Sản Chủ Nghĩa là đỉnh cao của Xã Hội Chủ Nghĩa. Mà XHCN cũng vỡ tan theo liên bang Sô Viết rồi, còn Thiên Đàng Cộng Sản có nằm mơ cũng không gặp.

Vậy mà các người cố gào 3/// để làm cho mình cao hơn ư? Rất tiếc cái chính nghĩa Cộng Hòa đó vẫn sang mãi trong lòng dân Việt, nhất là nhân dân miền Nam. Có lẽ phải dùng đến những con số để chứng minh cho thấy cả guồng máy của nhà nước XHCNVN đã và đang sống dưới bóng mát của lá cờ mà họ gọi là 3/// đó.

Các người cứ lục tung hết sổ sách của cái gọi là “chính quyền XHCNVN” lên mà xem tổng ngân sách nhà nước dùng để trả lương cho toàn bộ công nhân viên chức nhà nước là bao nhiêu. Rồi các người xem con số đó có phải chưa bằng một nửa số tiền Việt Kiều gửi về hàng năm, trung binh là 10 tỷ USD, có năm cao hơn. Như vậy các người không ngủ dưới bóng mát của lá cờ vàng ba sọc đỏ là gi?

Tôi sẽ dẫn giải cho các người thấy, cả nước VN từ sau 1975 đến nay vẫn tiếp tục sống dưới bóng mát của lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.

Từ ngày Sài Gòn bị “phỏng giái”, (người dân Miền Nam nói như vậy đó, nói lái là một nét đặc trưng trong văn hóa bình dân của dân nam kỳ), thì một mặt trận tiêu diệt Văn Hóa miền Nam được phát động rất quy mô và triệt để. Đó là trận chiến “Tẩy Não” dân Miền Nam, nhằm loại bỏ tư tưởng và ý thức hệ Tự Do Dân Chủ. Tất cả văn hoá phẩm từ sách báo đến âm nhạc đều bi tiêu hủy và cấm đoán. Nhưng làm sao trói buộc được tư tưởng của con người chứ?

Nhà nhà nộp sách đem đốt, việc nầy không khó, nhưng cấm dân miền Nam hát những bản nhạc đã in sâu vào tim vào óc của họ thì quả là không thể được. Khi mọi thứ đã hoang tàn đổ nát kể cả lòng người dân lành, thì những dòng nhạc trữ tình khe khẻ quay trở về như làn gió nhiệm mầu xoa dịu bớt cái nổi thống khổ của đời thường XHCN. CSVN gọi dòng nhạc đó là “Nhạc Vàng” để cân với dòng “Nhạc Đỏ” sặc mùi chém giết mà giai điệu và tiết tấu mang đậm sắc thái TC. Nhưng tới hiện tại thì họ trở nên ganh tị với cái tên gọi đó, vì nó đích đáng và đúng trên nhiều khía cạnh.

“Nhạc Vàng” không cổ súy chiến tranh mà chỉ biểu lộ những đau thương của con người trong thời chiến. Vậy tại sao người ta cấm Nhạc Vàng? Có phải ngườ ta sợ cái bóng dáng thiên thần dịu dàng và ngọt ngào đầy tình người sẽ làm hiện thân của Ác Quỷ nổi trội rỏ nét hơn chăng?

“Nhạc Vàng” một tòa lâu đài văn hóa Việt Nam Cộng Hòa bất diệt, chẳng những không hoen rỉ qua thời gian mà còn lóng lánh hơn như một kho báu cho mọi tầng lớp con dân VN suốt 3 miền và kể cả những kẻ từng lên án, vùi dập lẩn sợ sệt nó. Bao nhiêu người đã khai thác cái kho báu vô tận nầy.

“Nhạc Vàng” loài hoa mỹ miều kiêu sa, mọc lên từ bom đạn chiến tranh, tồn tại qua bao sự vùi dập, thể hiện tính Nhân Bản của một xã hội đầy tình người, đáng được trân quý như vàng. Hơn nữa thế kỷ qua, chưa có một đối thể nào lăm le đứng gần chứ đừng nói là soán ngôi.

“Nhạc Vàng”, một thứ phụ gia kỳ diệu, không thể thiếu được khi thưởng thức một ly cà phê ngon hay một chén trà thanh thoát. Một tay guitar và nhạc vàng luôn là tâm điểm cho những buổi nhậu bình dân.

“Nhạc Vàng”, một loại trầm hương hảo hạng cho bất kỳ cuộc họp mặt nào từ quê ra tỉnh, từ đám cưới đến đám tang, từ sân khấu đại nhạc hội hàng ngàn khán thính giả đến quán cà phê dăm ba người cuối phố, thậm chí là niềm giải trí duy nhất trong chốn lao tù….

“Nhạc Vàng”, là ánh lửa rực rỡ của con Phượng Hoàng hồi sinh từ tro bụi sau khi những người nhân danh CSCN đã giết nó bằng mọi khả năng của họ. Ánh lửa đó đã bùng lên, lan tỏa đến từng trái tim của chính những người mang danh hiệu là Đảng Viên ĐCSVN, bất luận là ở đâu, Nghệ Tỉnh, Hà Nội hay Sài Gòn!

Nói mãi về “Nhạc Vàng” VNCH không bao giờ cạn ý.

Nếu những lời lẽ quanh co trên đây chưa thực sự vẻ ra cái bóng mát của lá cờ vàng, chưa chứng minh được âm nhạc VNCH là Vàng ròng 24 kara thì tôi xin được dẩn quý vị vào yếu tố kinh tế của Nhạc Vàng vậy.

Từ hải ngoại đến quốc nội, bao nhiêu doanh nghiệp phát triển nhờ Nhạc Vàng, bao nhiêu ca sĩ thành danh và nên sự nghiệp, bao nhiêu người trở nên giàu có, bao nhiêu công ăn việc làm cho cái kỹ nghệ âm nhạc nầy, từ thời băng từ, đến đĩa từ, CD, kế đến phong trào Karaoke, bao nhiêu kỹ thuật viên, phòng thâu, ca nhạc sĩ, cơ sở sản xuất, phát hành, bán sĩ lẻ, thiết bị âm thanh, ..v.v  và  v.v….

Bao nhiêu Đại Nhạc Hội, tụ điểm ca nhạc… Biết bao nhiêu ca sĩ, từ Bắc chí Nam đã thành triệu phú đô la nhờ vào cái bị gọi là ” Văn Hóa Nô Dịch” đó.

“Nhạc Vàng” đã tham gia với người dân cả nước trong việc mưu sinh hàng ngày, từ quán cà phê, đến hang loạt xe đò đường dài, đến anh bán kẹo kéo, đến những em bán hàng rong hằng đêm trên phố, đến những người hành khất . . .Lớp học hát , học đàn nở rộ, tiệm sản xuất đàn guitar gia tăng, quán cà phê nhạc sống, bình dị mà trữ tình ngày càng phổ biến.

Một chiếc điện thoại thông minh, một cái mi-crô không dây, khách ngồi uống nước mía bên vệ đường cúng có thể chia sẻ với nhau một bản tình ca… ấm áp. Cái bóng mát đó càng ngày càng mở rộng ra trên nhiều lảnh vực của cuộc sống và địa phưong, lan dần đến tận các tỉnh miền Bắc… Đó không phải là bóng mát từ nên âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa thì là gì, lửa hỏa ngục chăng?

Tôi đã thấy, ca sĩ bật nhất ĐVH, tranh thủ cho ra mắt 2,3 album nhạc vàng trong vòng một tháng, hát giành hát giựt, sợ ca sĩ khác hát trước, mất số bán. Như một tên ăn trộm, khám phá ra kho báu, hốt vội hốt vàng, nhạc vàng là vàng rồng đó.

Tôi đã thấy cũng ĐVH hát “Cho một người nằm xuống” , dĩ nhiên là hát để thu tiền, có bao giờ ĐVH nghĩ đến những trái ngọt nầy do ai vung trồng mà nên? Sao không hát cho người thương binh VNCH còn sống vất vưởng ngày hôm nay. Mang danh một điva, một nghệ sĩ , ĐVH nếu có tâm hồn nghệ sĩ, sao không dám một có lần tri ân những người đã nằm xuống để bảo vệ cho thể chế đã sản sinh ra cái kho báu âm nhạc nầy. Phải chăng vì không có tâm hồn mà chỉ hát vì lòng tham nên bị người đời gọi là Ca Nô ?

Tôi đã xem video clip của đại ca…sĩ Ngọc Sơn, đại gia từ nhạc vàng, hát trong một hội trường đầy ấp khán giả là quân đội mặc quân phục đại cán, ngực đầy huân chương “cách miệng”. Những ca khúc nhạc vàng cất cao, cả hội trường đứng dậy, hai tay đưa lên cao, đung đưa theo dòng nhạc….

Các vị đa số là đảng viên, các vị chắc đã học tập lý luận nhiều lắm, quý vị có thấy một nghịch lý vô cùng to lớn ở đây không? Hoặc là các vị có thấy xấu hổ trong lòng không? Cái mà quý vị diệt tận, giết sạch ngày hôm qua, thì hôm nay ngồi dưới cái bóng mát của cái “xác khô” VNCH mà chia sẽ hương thơm ngào ngạt của nó.

Các người là kẻ chiếm và thắng, các người hành hạ, chà đạp kẻ thất cơ lỡ vận nhiều rồi, chúng tôi không màng, lịch sử sẽ có lúc trả lại công đạo.

Nếu quý vị mạt sát VNCH thì móc cổ mà ói ra hết những gì quý vị nuốt vô từ nền văn hóa VNCH đi.

Còn như quý vị trơ trẻn, miệng thì mỉa mai : “đu càng, ba que, quần què” mà giành nhau đưa tay vào chắm mút, chúng tôi khinh lắm.

 

Hoàng Ngọc Mai
Sống Một Đời. Một Đời Để Sống!

 

More reading

Các rạp hát của Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định trước và sau năm 1975

Inernet

 

A- CÁC RẠP CHIẾU BÓNG (CINÉ)

I-Trung tâm Sài Gòn

01- Rạp Al Hambra – đường Nguyễn Cư Trinh, quận 2

02-Rạp Alliance Française – 6 đường Đồn Đất, quận 1.

03-Rạp Asam (Rạp Hồng Bàng) – đường Công Lý góc Lê Lợi, quận 1

04-Rạp Casino Saigon– đường Pasteur-Lê Lợi, quận 1

05-Rạp Cathay – đường Nguyễn Công Trứ, quận 2

06-Rạp Cinéma Catinat – đường Nguyễn Thiệp, quận 1.

07-Rạp Đại Nam – 79 Trần Hưng Đạo, quận 2

08-Rạp Eden – đường Tự Do, quận 1

09-Rạp Kim Châu – 15, 17 đường Nguyễn Văn Sâm, quận 1.

10-Rạp Kim Đô – Tiếp tục đi về hướng cầu Ông Lãnh gần chợ Dân Sinh có rạp chiếu
bóng nhỏ tên là Kim Đô.

11-Rạp Kinh Đô (Sài Gòn) – Lê Văn Duyệt, quận 3.

12-Rạp Lam Sơn – Bùi Chu. Mũi tàu Lê Lai, Bùi Chu, Võ Tánh chéo góc với nhà thờ
Huyện Sĩ

13-Rạp Lê Lợi – 112 Lê Thánh Tôn, quận 1

14-Rạp Long Phụng – 234 Gia Long, quận 1

15-Rạp Long Thuận – 10 Trương Công Định và Nguyễn An Ninh, quận 1

16-Rạp Majestic – Đường Tự Do, quận 1.

17-Rạp Nam Tiến – Hẻm Nam Tiến-Bến Vân Đồn. Quận 4, Khánh Hội

18-Rạp Nam Việt – đường Tôn thất Đạm, quận 1

19-Rạp Nguyễn Huệ – đường Nguyễn Huệ, quận 1

20-Rạp Rex “cũ”- đường Nguyễn Công Trứ, quận 2

21-Rạp Rex – góc đường Lê Lợi & Nguyễn Huệ, quận 1

22- Rạp Mini Rex A & B – đường Lê Lợi, quận 1.

23-Rạp Thành Xương (Rạp Diên Hồng) – góc đường Phạm Ngũ Lão và đường Yersin.

24-Rạp Vĩnh Lợi – 121 đường Lê Lợi, quận 1

25-Rạp Khải Hoàn ngay góc đường Cống Quỳnh và đường Phạm Ngũ Lão, quận 2

26-Rạp Long Duyên – đường Hồ Văn Ngà, quận 2

27- Rạp Quốc Thanh – 271 đường Nguyễn Trãi, quận 2 Thanh.

28-Rạp Thăng Long – 148 đường Cống Quỳnh, quận 2

29-Rạp Thanh Bình (Rạp Quốc Tế) – 343 đường Phạm Ngũ Lão, quận 2

30-Rạp Khu Dân Sinh- đường Yersin, quận 2.

31-Rạp Văn Cầm – đường Trần Hưng Đạo, gần chợ Nancy, Chợ Quán.

II-Khu vực Đakao-Tân Định

32-Rạp Asam Đakao– đường Đinh Tiên Hoàng, khu Đa Kao, quận 1

33-Rạp Casino Đakao- đường Đinh Tiên Hoàng-Hiền Vưong, quận 1

34-Rạp Mô-Đẹc (rạp Kinh Đô) – đường Trần Văn Thạch, Tân Định, quận 1.

35-Rạp Kinh Thành (rạp Tân Định) – đường Hai Bà Trưng, quận 3

36-Rạp Văn Hoa Đakao – số 62, đường Trần Quang Khải, gần xóm Vạn Chài, quận 1

III-Khu vực Bàn Cờ

37- Rạp Đại Đồng (Sài Gòn) – 130 đường Cao Thắng, quận 3

38 – Rạp Long Vân – 643 đường Phan Thanh Giản, quận 3

39- Rạp Nam Quang – 147 đường Lê Văn Duyệt, quận 3

40- Rạp Olympic – 97 đường Hồng Thập Tự, quận 3.

41-Rạp Thanh Vân – 360A đường Lê Văn Duyệt, quận 3

42- Rạp Văn Lang (Rạp Minh Châu) – đường Trương Minh Ký, quận 3.

43- Rạp Việt Long (Rạp Capitol- Rạp Văn Hoa Sài Gòn Rạp Thăng Long) – 19 đường
Cao Thắng, quận 3.

IV-Khu vực Chợ Lớn

44- Rạp Đại Quang – 63, 65 đường Tổng Đốc Phương, quận 5

45- Rạp Hào Huê –372-374, đường Nguyễn Hoàng, Chợ Lớn, quận 5.

46- Rạp Hoàng Cung – đường Triệu Quang Phục, quận 5

47-Rạp Lệ Thanh A – 25 đường Phan Phú Tiên, quận 5

48- Rạp Lido – đường Đồng Khánh, quận 5

49- Rạp Oscar –Rạp cũng thuộc loại khá.

50- Rạp Palace – 890 đường Đồng Khánh, quận 5

51-Samtor -153, 161 đường Lương Nhữ Học, quận 5

52- Rạp Tân Việt – 252 đường Đồng Khánh, quận 5

53-Rạp Trung Hoa – đường Đồng Khánh- Mạnh Tử, trước nhà thờ Cha Tam, Chợ Lớn, quận 5.

54- Rạp Victory Lê Ngọc – 102 đường Tổng Đốc Phương, quận 5

55-Rạp Minh Phụng – đường Hồng Bàng, Chợ Lớn, quận 5

56- Rạp Đô Thành – bên hông chợ Kim Biên, quận 5.

57- Rạp Hồng Liên – 259 đường Hậu Giang, quận 6n

58- Rạp Hương Bình – Bình Tiên, quận 6.

59- RạpTân Bình (Rạp Cây Gõ)-146 đường Minh Phụng, quận 6

60-Rạp Tân Mỹ-2/3 đường Trần Xuân Soạn, quận 7

61- Rạp Phi Long-59, 61 Xóm Củi, quận 8

62- Rạp Mỹ Đô (Rạp Thành Chung) – góc Trần Nhân Tôn và Vĩnh Viễn, quận 10.

63- Rạp Hùng Vương -286 đường Pétrus Ky, quận 10.

64- Rạp Kha Lạc-200 đường Nguyễn Tri Phương, quận 10

65- Rạp Quốc Thái-1557 đường Trần Quốc Toản, quận 11.

V-Khu vực Gia Định

66- Rạp Văn Cầm (Phú Nhuận) – 222, 224 đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận.

67- Rạp Cẩm Vân-287 đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận

68- Rạp Cao Đồng Hưng – 475 đường Chi Lăng, Bà Chiểu

69- Rạp Đại Đồng (Bà Chiểu) – đường Chi Lăng- Gia Định

70-Rạp Đại Lợi – 91b2 đường Thoại Ngọc Hầu, quận Tân Bình

71- Rạp Đông Nhì-524, 526 đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp

72-Rạp Huỳnh Long – nằm trong chợ Bà Chiểu, trên đường Châu Văn Tiếp gần cửa
chính của Lăng Ông Bà Chiểu

73- Rạp Lạc Xuân-220 đường Gia Long, quận Gò Vấp

NHỮNG NƠI CÓ PHIM KHÔNG BÁN VÉ

-Trường Taberd.

-Đơn vị Công Binh.

-Câu Lạc Bộ Mỹ.

-Đài Truyền Hình Số 11.

-Hội trường của công ty Shell.


B-RẠP CẢI LƯƠNG XƯA Ở SAIGON

74- Aristo- đường Lê Lai, quận 2

75- Rạp Nguyễn Văn Hảo – Số 30, đường Trần Hưng Đạo, quận 2.

76-Rạp Hưng Đạo – 136, đường Trần Hưng Đạo-Phạm Ngũ Lão, quận 2.

77-Rạp Lux –. Nằm trên đường Trần Hưng Đạo, cạnh chợ Nancy và đường Nguyễn Biểu (cầu Chữ Y).

78-Rạp Quốc Thanh – 271, đường Nguyễn Trãi, quận 2.

79-Rạp Thống Nhất- đường Thống Nhất, quận 1.

80-Rạp Thành Xương – góc đường Phạm Ngũ Lão và đường Yersin, quận 2.

81-Rạp Thủ Đô (Tên cũ là Eden Chợ Lớn) -125 đường Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn,
quận 5.

TÀI LIỆU THAM KHẢO TRÊN INTERNET

1. Các rạp chiếu bóng của Sài Gòn xưa ,Thuần Hóa- 17/05/2012.

2. Ciné & rạp hát Sài Gòn, Huỳnh Văn Yên- hongoccan2017-18/06/2011.

3. Rạp Xi-Nê Sài Gòn Xưa-hongoccan2017-25/10/2016.

4. Rạp xi-nê Sài Gòn xưa và Tên đường phố Sài Gòn (Thời Pháp thuộc -Trước và sau 1975) -Hồi Ức Một Đời Người-nguoibatcao-10/08/2011.

5. Ngày Xuân vòng quanh các rạp ciné Sài Gòn-Nguyên Trần (Toronto).

6. Những rạp hát, rạp chiếu phim từng gắn bó với người Sài Gòn xưa giờ ra sao? – Phạm An-Trí Thức Trẻ-28/11/2015.

7. Rạp Xi-Nê Sài Gòn Trước 1975- Tran Dang Chi.

8. Xuân về nói đến những rạp chiếu phim ở Sài Gòn ngày xưa- Lê Quang Thanh Tâm-28/01/2017.

9. Rạp Hát Sài Gòn Xưa- Alex-hdvietnam.com.

10. Các Rạp Hát Sài Gòn Trước 1975- TAM73F.

11. Chùm ảnh: Dạo quanh các rạp chiếu phim của Sài Gòn xưa-Le Ngoc Kha Nhi & Alext-Trí Thức Trẻ-15/05/2012.

12. Gặp chủ rạp hát Đại Đồng – Con trai nhà kinh doanh rạp chiếu bóng đầu tiên ở Việt Nam- Minh Đức-04/06/2009.

13. Tết Cải Lương… Một thời vang bóng- Soạn giả Nguyễn Phương-Tháng 2-2018.

14. Sân khấu cải lương ở VN hiện nay ra sao? -Soạn giả Nguyễn Phương-Tháng 10-2017.

15. Các rạp cải lương xưa ở Sài Gòn, -Soạn giả Nguyễn Phương-Sai Gon xua-12/06/ 2012.

16. Xác rạp hát, hồn… không liên quanl- HO-QN- Tuổi Trẻ -11/2014.

17. Dân ca dân nhạc VN: Các rạp cải lương xưa ở Sài Gòn- Tình trạng cải lương hiện nay-Trần Lê Túy-Phượng- Bình luận-25/01/ 2015.

18. Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang: “Thánh đường” không trọn vẹn- Mai Linh/baovanhoa.vn=31/05/2017.

19. Về lịch sử người Minh Hương và người Hoa ở Nam Bộ, Nguyễn Đức Hiệp-The Observer-19/06/2016.

20. Con hẻm ngày xưa- Từ Kế Tường.

21. https://www.flickr.com/photos.

22. Chuyện tình của ông Vương Hồng Sển- Soạn giả Nguyễn Phương-Thời Báo số 626-24/03/2018.

23. Rạp & những câu chuyện kể Bài 2: Có một thời như thế- Bá Vũ-31/08/2010.

24. Ngọc Đan Thanh, loài hoa nở muộn- Soạn giả Nguyễn Phương-Thời Báo số 629-14/04/2018.

25. Hội nghị cấp cao giải cứu sân khấu cải lương tung hóa mù- Người Sài Gòn-Thời Báo số 633-12/05/2018.

26. Ấn Tượng…Saigon -Tạp Ghi Huy Phương.

27. Dakao trong tâm tưởng- Vĩnh Nhơn-Thời Báo số 334-1996/05/23.

28. Khu Dân Sinh- Một thuở Sài Gòn-Nguyễn Ðạt-02/12/ 2016.

29. Chợ trời khu Dân Sinh-Trang Nguyên-dongsongcu-30/11/2017.

Continued ……

More reading

Ăn mày cửa Phật

Có một ông Lão kéo một xe gạo nặng nề lê bước trên đường vừa đi vừa thở hổn hển, vô tình bánh xe chao đảo vì va vào một cục đá bên đường, làm cả xe gạo lật ngang. Ông lão cố hết sức nâng xe gạo lên, nhưng không nâng lên nổi. Ông mệt mỏi, mồ hôi nhễ nhại, trời nắng chang chang. Ông bất lực, ngồi bệch xuống đường. Nhìn xung quanh, ông thấy một ngôi Chùa. Bên ngoài ngôi Chùa là những chiếc xe hơi lộng lẫy.

Ông suy nghĩ và than: “Có người vừa sinh ra thì đã giàu, có kẻ làm lụng vất vả cả đời lại chẳng có gì!”

Một người phật tử đi ngang nghe thấy nên nói với ông: “Ông đã đến cửa Phật sao không vào thành tâm cầu nguyện, lại ngồi đây than thân trách phận! Người ta bảo Chùa đó rất thiêng, chính vì vậy mà khách thập phương cứ kéo đến ùn ùn”.

Ông Lão nghĩ mình đã bất lực trước cảnh nghèo túng và sự lật đổ của xe gạo, nên từ từ bước vào Chùa theo tiếng Chuông ngân trong lòng có rất nhiều điều mong ước.

Trước mắt ông nhiều người đang quỳ trước tượng Phật uy nghi khấn nguyện.

Ông đứng nhìn ngơ ngác.

Một Vị tăng bước tới và hỏi: “Ông lần đầu tiên đến đây phải không?”

Ông Lão: “Vâng! thưa Thầy lần đầu con đến nơi cửa Phật nên chẳng biết cầu nguyện ra sao. Kính mong Thầy chỉ dạy!”

Vị Tăng: “Ông mong muốn điều gì?”

Ông Lão quay nhìn những người kia và nói: “Con cầu xin đức Phật ban phát sự công bằng.”

Vị Tăng: “Công Bằng ư?”

Ông Lão: “Vâng! thưa Thầy. Con sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, bần hàn không được học hành tử tế, từ bé đã phải tự mưu sinh. Lớn lên lấy một người vợ nghèo và nai lưng làm lụng như trâu bò, để nuôi bầy con nheo nhóc. Cuộc đời khốn khổ cơ hàn cứ thế bám theo con dai dẵng. Trong khi có biết bao nhiêu người khác sinh ra trong một gia đình giàu sang, chẳng cần cố gắng mà vẫn sống suốt đời trong nhung lụa. Như vậy thực là không công bằng! Nếu đức Phật linh thiêng xin Người hãy ban cho con một ít may mắn của những người kia!”

Vị Tăng: “Như những người kia ư?”

Ông Lão: “Chỉ cần nhìn họ là đủ biết họ giàu sang quý phái cở nào rồi. Những người nghèo khổ như con không thể hiểu nổi họ làm gì mà giàu sang lắm vậy?”

Vị Tăng: “Cái đó ta không biết? nhưng khi tới đây họ cũng chỉ là ăn mày cả mà thôi.”

Ông Lão: “Ăn mày ư? thưa Thầy!”

Vị Tăng: “Đúng! Ăn mày Cửa Phật!”

Ông Lão: “Nhưng nhìn họ giàu sang Quý phái có thiếu gì mà phải đi ăn mày?”

Vị Tăng: “Sống trên cõi đời này mấy ai thỏa mãn với những gì mình đang có. Không tin ông cứ lại gần họ xem.”

Ông Lão tò mò đi tới gần vài người, lắng tai nghe những lời cầu nguyện của họ.

– Một người đàn ông lớn tuổi mặc áo vest, thắt cà vạt trong rất chỉnh tề cầu nguyện: “Cầu xin đức Phật cứu giúp công ty con khỏi bị phá sản, hàng trăm gia đình công nhân đang trong chờ vào Công ty. Đang trông chờ vào sự lèo lái của con. Mô Phật !”

– Một người đàn bà lớn tuổi khóc thút thít:” Xin Đức Phật rũ lòng từ bi cho con sức mạnh để chiến đấu với căn bệnh ung thư quái ác. Xin ngài đừng để con phải chịu những cơn đau hành hạ, dày vò”.

– Một cô gái trẻ tuổi buồn rầu ủ rũ khấn nguyện: “Năm nay con đã gần 30 tuổi, mà vẫn chưa có người yêu thương. Con vô cùng buồn tủi, con chỉ xin Ngài linh thiêng cho con chút dung mạo để con tìm được một tấm chồng. Xin Ngài ban phước, mô Phật!”

Ông nghe được nhiều người khác xung quanh ông đều có vấn đề đau khổ để cầu nguyện.

Ông lão cảm động rơi nước mắt.

Ông bật thốt lên: “Tội nghiệp quá!”

Ông trở lại bên cạnh vị Tăng và thưa: “Thưa Thầy họ cầu xin rất nhiều điều, hóa ra họ toàn là ăn mày thật. Con cứ nghĩ trên đời này ai cũng hạnh phúc hơn con, chứ ai biết được họ cũng có nhiều nỗi khổ đến thế. Ngẫm ra con còn có nhiều điều hạnh phúc hơn họ như sức khỏe, sự vô tư chẳng hạn.

Vị Tăng: “Đúng vậy! Cuộc đời công bằng với tất cả mọi người. Nên biết an phận với thực tại và cố gắng hết sức mình để tự mình hóa giải những khó khăn trong cuộc sống, đó mới chính là một cuộc đời hoàn mỹ.”

Ông Lão nghe xong tỉnh ngộ!

Ông bước ra khỏi chùa và không cầu nguyện điều gì cả.

Ông đã không cầu nguyện điều gì cả vì tự thấy mình có thể vượt qua được khó khăn đang có của mình. So với những người giàu có kia, khó khăn của ông thật là quá nhỏ bé.

Ông trở lại bên cạnh xe gạo. Khuân từng bao gạo ra khỏi xe kéo, rồi khi không còn bao gạo nào trên xe, rất dễ dàng ông nâng chiếc xe đứng lên vững vàng trên hai bánh xe và vác gạo để lên xe.

Ông kéo xe đi trong lòng thênh thang.

 

More reading

Ý kiến nói Tây Sơn ‘giải phóng nông dân’ chỉ là huyền thoại

BBC

Sử gia George Dutton tìm lại các nguồn sử liệu Việt Nam và nước ngoài để chứng minh rằng những nhà lãnh đạo Tây Sơn trên thực tế không có mục đích giải phóng nông dân.

Sử gia George Dutton, tác giả luận án tiến sĩ về Tây Sơn: The Tay Son Uprising: Society and Rebellion in Late Eighteenth-Century Viet Nam, 1771-1802 đã viết nhiều bài về thời kỳ Tây Sơn, và công nghệ quân sự Việt Nam.

Bài ‘Rethinking the Tây Sơn Era’ (Nhìn lại thời Tây Sơn) của ông không đồng ý với hai quan điểm cũ ở Việt Nam về triều đại Tây Sơn.

Theo ông, phong trào Tây Sơn tàn nhẫn không kém gì nhà Trịnh hay Nguyễn trong việc cưỡng bức nông dân phục vụ cho các chiến dịch quân sự và các công trình xây cất.

Theo George Dutton, cuộc sống của nông dân Việt Nam ở những nơi ba anh em Tây Sơn làm chủ hay chiếm đóng còn cực khổ hơn dưới ách chúa Trịnh hay chúa Nguyễn vì quân Tây Sơn liên tục tiến hành chiến tranh.

Quân Tây Sơn cũng nổi tiếng ưa đốt phá, cướp bóc và thường họ đến đâu chỉ một thời gian ngắn là dân chúng tìm cách trốn khỏi vùng họ kiểm soát, để tránh không bị cưỡng bức vào quân đội hay chế độ lao dịch.

Đây là một trong những lý do khiến triều đại này sụp đổ nhanh chóng.

Nghĩa vụ quân sự liên miên

Theo tác giả Dutton, phong trào Tây Sơn gần như ở trong tình trạng lâm chiến triền miên. Ngoài những trận ban đầu đánh chúa Nguyễn, quân Tây Sơn đánh nhau với quân Trịnh năm 1786, sau đó nhiều lần tấn công ra Bắc, rồi xâm lăng Lào năm 1791, chuẩn bị đánh nhà Thanh để ‘lấy lại Lưỡng Quảng’ năm 1792, các trận đánh với quân Nguyễn Phước Ánh ở phía Nam…

Giữa các anh em nhà Nguyễn cũng hay có xung đột quân sự như trận Nguyễn Huệ đánh nhau với Nguyễn Nhạc năm 1787.

Và chỉ trong một trận đó, nguồn tin từ một nhà truyền giáo nước ngoài nói Nguyễn Nhạc mất tới 40 nghìn quân.

Số quân lính Tây Sơn bị giết trong các trận đánh khác cũng rất lớn.

Để có quân lính phục vụ các chiến dịch, nhà Tây Sơn đã áp dụng chính sách bắt lính cưỡng bức tàn khốc.

Sử gia George Dutton nói dù ban đầu có những nông dân hăng hái xung vào đội quân Tây Sơn, nhưng càng về sau này, hàng ngũ của họ không còn những người ‘nhiệt tình’ nữa, mà chỉ là lính quân dịch.

Dutton cũng nói trên thực tế chế độ quân dịch dưới ách các chúa Trịnh và Nguyễn cũng không kém tàn khốc đối với nông dân, nhưng dưới chế độ Tây Sơn, người lính-nông dân phải liên tục ra trận và thường bị các cấp chỉ huy đối xử tàn bạo.

Nhà Tây Sơn thẳng tay bắt lính và trừng trị nặng nề những ai không muốn theo họ.

Chế độ lao dịch

Theo George Dutton, dân chúng ở những vùng Tây Sơn làm chủ phải chịu chế độ lao dịch rất hà khắc. Dân chúng bị buộc phải tham gia xây dựng cách công trình quân sự và dinh thự.

Năm 1775, Nguyễn Nhạc bắt dân xây thành Chà Bàn để làm kinh đô.

Trong đợt tấn công ra Bắc năm 1786, Nguyễn Huệ cũng bắt dân lo việc lao dịch, gây ra phản ứng xấu trong dân chúng.

Sau khi chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Huệ cho lính vây bắt dân, buộc họ làm việc ngày đêm để củng cố lại thành quách làm chỗ ông ta cố thủ.

Chỉ vài năm sau, Nguyễn Huệ lại bắt dân xây Phượng Hoàng Trung Đô ở Nghệ An, một công trình có tầm vóc rất lớn. Theo các sử liệu nước ngoài, dân địa phương phản đối và mạnh ai ngưòi nấy trốn.

Quân Tây Sơn còn hà khắc hơn các chúa Trịnh và Nguyễn trong việc áp dụng chế độ lao dịch. Dưới quyền của họ, quân lính bắt cả các nhà sư, phụ nữ và trẻ em đi phu. Chỉ có những bà mẹ đang chăm chon còn bú là được miễn.

Theo George Dutton, một trong những lý do khiến các công việc xây cất có nhiều dưới triều Tây Sơn là quân Tây Sơn hay đốt phá các công trình của đối thủ và cả các chùa chiền.

Việc dùng hỏa công như một cách tiến hành chiến tranh cũng góp phần tàn phá nhà cửa. Và sau khi chiếm được một đô thị, họ lại có nhu cầu phòng thủ và xây cất dinh thự cho các tướng lĩnh.

Huyền thoại cách mạng

Sử gia George Dutton cũng tìm cách giải thích vì sao có huyền thoại Tây Sơn như những người giải phóng. Theo ông, vào thế kỷ 18, trong một thời gian dài kéo qua mấy thế hệ, người dân, nhất là nông dân Việt Nam ở mọi miền đất nước đã chịu cảnh can qua không ngừng.Hàng trăm nghìn người bị giết trong các cuộc chiến giữa hai miền, Đàng Trong và Đàng Ngoài và giữa các thế lực quân sự khác nhau.

Họ quá mệt mỏi, đau khổ và luôn mong ước thoát khỏi cảnh chiến tranh, áp bức.

Triều Tây Sơn, khởi đầu bằng một nhóm thương nhân người Việt cộng tác với người sắc tộc thiểu số vùng An Khê, đã xuất hiện như một thế lực mới.

Ban đầu, họ nổi tiếng là nhóm khởi nghĩa có tài đốt phá dinh thự, nhà cửa của quan lại và chia của cho dân. Dân chúng ở những vùng chưa biết đến họ đã mơ ước được giải phóng.

Chỉ có điều những người giải phóng này sau đó đã áp đặt một chế độ cưỡng bức quân dịch và lao động công ích không kém tàn khốc so với những lãnh chúa phong kiến khác.

Theo Dutton, hiện tượng ‘mơ ước’ được một thế lực khác đối xử tốt hơn cũng xảy ra với dân ở những vùng chưa biết đến chế độ của Nguyễn Phước ánh khi ông ta còn trú ẩn ở cực Nam.

Nhìn chung, theo George Dutton thì trong suốt thế kỷ 18, không một thế lực nào ở Viêt Nam lại không áp bức nông dân, buộc họ đi phu đi lính.

Nhìn chung, nhà Tây Sơn cũng chẳng khác gì các triều khác, thậm chí còn có phần tàn khốc hơn. Nhưng theo phân tích của George Dutton thì sau khi triều Nguyễn thống nhất đất nước, hình ảnh ‘giải phóng’ của Tây Sơn phần nào đọng lại trong ký ức dân gian vì sự căm ghét đối với triều Nguyễn, chứ không phải là sự thực.

Nó được các sử gia Cộng sản sử dụng từ sau Thế Chiến II để tô vẽ ra hình ảnh ‘những anh hùng cách mạng nông dân’. Họ cũng đặt cho triều Tây Sơn ba ‘đức tính’ là ‘tính cách mạng, lòng cao thượng vì công bằng xã hội và ý chí đuổi ngoại xâm, thống nhất đất nước’.

Nhà Tây Sơn được nhìn nhận như những người tiên phong trong cuộc cách mạng được nông dân ủng hộ để thay đổi toàn bộ xã hội.

Nhưng George Dutton, từ khoa Ngôn ngữ và Văn hóa châu Á, University of California Los Angeles (UCLA) không đồng ý.

Ông cho rằng cách nhìn đầy lưu luyến về phong trào Tây Sơn là sản phẩm của việc viết lại lịch sử phục vụ cho mục tiêu của thế kỷ 20, dựa trên lời kể truyền miệng trong dân chúng theo kiểu truyền thuyết dân gian (folk tradition) mà thôi.

Toàn bài đã được trình bày ở Hội thảo quốc tế Việt Nam 2, TPHCM 07/2004.Một bản ngắn đã được đăng trên giao diện cũ của BBC Tiếng Việt cùng năm.

More reading

2 cô bé được gọi là “cặp song sinh đẹp nhất thế giới” năm xưa

Trên tài khoản mạng xã hội với 1 triệu lượt theo dõi, mẹ của hai bé gái xinh đẹp vẫn luôn cập nhật những bức hình của các con, ai cũng trầm trồ trước nhan sắc ấy.

Leah Rose và Ava Marie là hai chị em sinh đôi cùng trứng, sinh ngày 7/7/2010 tại California. Mặc dù hai con sinh đôi của anh Kevin Clements và chị Jaqi chào đời sớm hơn dự kiến tới 4 tuần rưỡi nhưng may mắn là sức khỏe của hai cô bé vẫn khá tố, lại được “trời phú” cho vẻ ngoài xinh xắn khiến ai cũng xuýt xoa, thèm ước.

Ngay từ khi sinh con ra, chị Jaqi đã luôn nhận được nhiều lời khen và sự ngưỡng mộ của những người xung quanh về khuôn mặt xinh xắn, cân đối và đôi mắt to tròn hút hồn, làn da mịn màng của hai cô bé.

 

 

 

Ngay từ khi hai bé còn nhỏ, mọi người đều khuyên Jaqi nên cho con theo nghề người mẫu để không uổng phí sắc đẹp.

Từ khi con chào đời, chị Jaqi luôn được nghe những lời khen ngợi về vẻ ngoài của hai con gái. Đa số mọi người đều khuyên Jaqi nên cho con theo nghề người mẫu để không uổng phí sắc đẹp.

Khi Leah và Ava được 6 tháng tuổi, chị Jaqi ban đầu dự tính sẽ cho con tham gia vào công ty người mẫu tuy nhiên cuối cùng chị lại quyết định gác lại ý định đó vì nghĩ rằng còn quá sớm để bắt con phải đương đầu với những áp lực như vậy.

Bên cạnh đó, Jaqi còn một cậu con trai lớn chỉ mới 2 tuổi, cuộc sống bận rộn với 3 con nhỏ thật sự không phải lúc nào cũng dễ dàng.

 

Đến năm cặp chị em sinh đôi, Leah và Ava, tròn 7 tuổi, vào ngày 7/7/2017, chị Jaqi đã lập cho các con một tài khoản Instagram và đăng những tấm ảnh đầu tiên.

Không ngờ, chỉ sau một đêm, hình ảnh hai cô bé xinh đẹp với những đôi mắt long lanh hút hồn đã khiến cho cư dân mạng vô cùng thích thú và ngưỡng mộ.

Leah và Ava rất nhanh chóng trở nên nổi tiếng như cồn, nhiều công ty người mẫu sau đó cũng lần lượt kéo đến đề nghị ký hợp đồng với hai cô bé.

Sau khi hỏi về nguyện vọng của hai con gái, chị Jaqi đã ký hợp đồng với hai công ty người mẫu và nhận về rất nhiều hợp đồng chụp ảnh cho nhãn hàng thời trang trẻ em, tạp chí…

Quả thực vẻ đẹp không góc chết của cặp chị em này đã khiến cư dân mạng phải xuýt xoa và không ngại phong tặng danh hiệu “cặp sinh đôi đẹp nhất thế giới”.

 

 

 

Hiện tại tài khoản Instagram của hai chị em với tên gọi The Clements Twins đã có tới 1 triệu lượt theo dõi chỉ sau hơn 1 năm, một con số ấn tượng mà bất kỳ người nổi tiếng nào cũng đều ao ước có được.

Giờ đây, hơn 1 năm sau khi bỗng nhiên nổi như cồn trên mạng, cặp chị em sinh đôi đã lớn hơn rất nhiều nhưng có một điều không thay đổi, ấy là nét đẹp thanh tú, không tì vết của hai cô bé, đặc biệt là đôi mắt sâu thẳm như chứa đựng cả đại dương bao la, hớp hồn bất kỳ ai nhìn thấy.

Trên tài khoản mạng xã hội với 1 triệu lượt theo dõi, mẹ của hai bé gái xinh đẹp vẫn luôn cập nhật những bức hình của các con, ai cũng trầm trồ trước nhan sắc ấy.

Cùng ngắm nhìn những bức ảnh của hai bé gái xinh đẹp được mệnh danh là “cặp song sinh đẹp nhất thế giới”:

Dù đã cao lớn hơn rất nhiều nhưng hai chị em vẫn sở hữu khuôn mặt vạn người mê.

 

 

 

 

Gia đình hạnh phúc của Leah Rose và Ava Marie.

kenhsao.net

 

More reading

Rộn rã một thời báo Tết học sinh Sài Gòn

BBC

Những bìa báo xuân lưu dấu một thời học trò Sài Gòn
Báo Xuân Trưng Vương 1974

Trong thời buổi báo giấy dần trở nên xa lạ với bạn đọc thì việc học sinh trung học làm báo bán được hàng nghìn bản vào dịp Tết quả là sự lạ. Tất nhiên chuyện xảy ra cách đây cũng hơn nửa thế kỷ tại Sài Gòn và các tỉnh phía Nam.

Bộ mặt của trường

Gặp nghệ sĩ, nhà nghiên cứu Trịnh Bách tại buổi giới thiệu Sách Tết ở Hà Nội, ông lại mang chuyện làm báo Tết thời còn học trường Võ Trường Toản- Sài Gòn ra kể: “Báo Tết của học sinh được đón nhận rầm rộ. Nó giống như danh dự của trường, thể hiện trình độ văn hóa học sinh của trường, nên thi đua kinh lắm,bài vở chuẩn bị cả năm.”

Báo Tết của học sinh gọi là “giai phẩm Xuân” đầu những năm 1970 in offset, bìa màu với trường giàu ở thành phố, còn tỉnh lẻ quay roneo- cốt sao vừa túi tiền học trò. Cả trăm trang đâu phải chuyện chơi. Nhà văn Lê Văn Nghĩa nhớ mỗi lần in cỡ 1-2 ngàn bản. Còn theo Trịnh Bách, có trường in tới 5 ngàn bản- trong khi tạp chí Bách Khoa thời hoàng kim cũng chỉ được 4.500 (thống kê của Nam Bộ đất và người). “Vì ở những trường lớn, ngoài số báo bán cho học sinh và phụ huynh, còn phải in đủ để bán sang các trường khác và các sạp báo,” ông Bách nói.

Nhà báo Phạm Công Luận trong tập 1 Sài Gòn chuyện đời của phố (NXB Văn Hóa Văn Nghệ 2015) bổ sung nguyên nhân bùng nổ báo Tết học sinh khi đó:

“Báo Xuân học đường là cơ hội của các cây bút học đường do báo chí người lớn thu hẹp dần đất dành cho tuổi trẻ, nhiều tờ báo khác bị đóng cửa do tình hình khó khăn thời chiến.”

Báo chí là một trong những hoạt động quan trọng của hiệu đoàn- tổ chức sinh hoạt ngoại khóa (thể thao, văn nghệ…) của học sinh trong trường do các học sinh ưu tú trong các lĩnh vực đó cầm chịch.

“Vì thế, trước tháng 12 dương lịch là các trưởng ban (báo chí) các lớp- không phân biệt lớn nhỏ (trường thời đó gộp cả cấp II và III- PV)- được lệnh của trưởng khối ‘báo chấy’ toàn trường kêu gọi tham gia viết bài cho giai phẩm trường mình. Quyền lợi của ‘nhà văn, nhà thơ’ là được đăng bài và hãnh diện với bạn bè, ngoài ra không còn gì hết”- Lê Văn Nghĩa viết trong bài Tết và giai phẩm học trò (đăng báo Công an TP HCM Tết năm nay).

Ông Nghĩa cho hay, bài vở sau khi được nhóm báo chí xử lý phải chuyển cho giáo sư hướng dẫn báo chí đọc, rồi cũng phải có giấy phép từ Bộ Thông tin mới được đem đi in.

Báo Tết của học sinh Sài Gòn phát hành cả ở các tỉnh lân cận như Tây Ninh, Biên Hòa, Đồng Nai… Những học sinh khéo ăn nói nhất được cử đi làm nhiệm vụ bán báo. Nhiều trường nam nữ học riêng nên nhiệm vụ gây phấn khích nhất là mang báo sang trường khác phái bán. Lê Văn Nghĩa, học Petrus Ký từ 1965 đến 1972 so sánh: “Nó giống như thám hiểm một thế giới khác vậy, lạ lắm…”

Công phu bán báo

Trong cuốn truyện dài Mùa hè năm Petrus (NXB Trẻ- 2013), Lê Văn Nghĩa dành hẳn hai chương kể về hai chuyến “thám hiểm” của đội bán báo Petrus Ký sang trường nữ Gia Long và ngược lại. Trích phát biểu của trưởng khối báo chí Petrus Ký tại trường bạn: “Hôm nay, học sinh Petrus chúng tôi nhân mùa Xuân về, đem miếng trầu cay đến để giới thiệu với những người bạn gái Gia Long những tình cảm chân thành. Mai đây, rồi chúng ta sẽ rời bỏ ngôi trường yêu dấu của mình để tung bay vào vạn nẻo đường đời, nhưng những kỷ niệm đời học sinh sẽ vẫn còn mãi vì nó được ghi đậm bằng những áng văn chương thời học sinh…” Thính giả vỗ tay nhiệt liệt.

Những bìa báo xuân lưu dấu một thời học trò Sài Gòn
Báo Xuân Gia Long 1975

Bản quyền hình ảnh Phạm Công Luận
Image caption Báo Xuân Gia Long 1975

Theo truyện thì bán báo cho nữ sinh coi vậy mà dễ, các cô cùng lắm chỉ trêu các cậu là “ốm nhom như thằng ghiền” hay “thi sĩ ròm”.

– Em ơi trong cuốn giai phẩm này có truyện nào giống truyện Vòng tay học trò không em?”

– Làm sao mà có được anh. Tụi mình là học sinh mà.

-Như vậy thì có chuyện “vòng tay em” không?

Trên đây là một mẩu đối thoại giữa cô bán báo Gia Long với các quỷ nam Petrus Ký trong Mùa hè năm Petrus. “Sốc” hơn, một nam sinh lớn tuổi có tí cay cú vì bị gọi là “em” đã “len lén đi tới đi tới phía sau lưng” “đánh nhẹ vào mông” cô bán báo. Theo nhà văn thì đúng là hai bên trêu chọc nhau dữ dội, đối đáp có thêm thắt, còn hành động “metoo” kia là có thật. 

Nhưng đến khi đem ra thi thố văn chương thì biết ai “chị” ai “em”. Cuộc thi báo tết học sinh tháng 2/1975 có trên 50 tờ tham gia. Ban Giám Khảo là các nhà văn nổi tiếng thời bấy giờ Minh Quân, Minh Đức Hoài Trinh, Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, ố Oanh, Lê Tất Điều, Nguyễn Mộng Giác…”

Các trường ở Sài Gòn gửi thẳng đến Ban Giám Khảo, các trường ở tỉnh lỵ, quận lỵ thì Ty giáo dục phải tuyển chọn trước khi gửi về.” nhà báo Phạm Công Luận cho hay.

Những bìa báo xuân lưu dấu một thời học trò Sài Gòn
Báo Xuân Trần Lục 1971

Bản quyền hình ảnh Phạm Công Luận
Image caption Báo Xuân Trần Lục 1971

Kết quả, giai phẩm xuân nữ trung học Gia Long chiếm giải Nhất, kế đến là nữ trung học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt), nam trung học Võ Trường Toản giải Ba. Hai trường nữ Sương Nguyệt Anh,  Lê Văn Duyệt cùng Petrus Trương Vĩnh Ký chia nhau Khuyến khích. 

Các cây bút nữ được giám khảo nhận xét “tình cảm trong thi ca phong phú hơn, đối thoại trong truyện ngắn linh hoạt hơn”.

Căn nguyên theo Lê Văn Nghĩa:

“Các ‘nường’ dư thời giờ suy tưởng ra những ý hay văn đẹp, còn các chàng bị Sở Động Viên nhắc nhở nếu thi không đậu sẽ vào quân trường nhe các em, cha mẹ hăm he nếu không thi đậu năm nay thì đời con sau nầy sẽ hát bài Xuân nầy con không về nhá liệu mà cái thần hồn… Còn tinh thần đâu mà thơ với truyện!”

Theo Lê Văn Nghĩa thì khoảng thời gian đầu thập kỷ 1970 ở miền Nam, văn chương nữ cũng ở thế thượng phong trên “thị trường chữ nghĩa”. “Vì người sáng tác thuộc phái nữ, đề tài sáng tác, nhân vật điển hình ở phái nữ, và cả độc giả cũng là phái nữ… Ngoài xã hội phụ nữ chiếm phần ưu thế thì trong cuộc tranh đua giữa các báo xuân học đường, phái nữ cũng phải chiếm ưu thế”- nhận định của bán nguyệt san Bách Khoa số 425, phát hành tháng 3/1975.

Không thờ ơ trước thời cuộc

Theo Phạm Công Luận, Gửi người em lớp 6- thơ của Trần Bích Tiên, lớp 10 trường Bùi Thị Xuân từ giai phẩm Xuân đã được đăng trang trọng trên Bách Khoa- tạp chí uy tín thu hút các học giả hàng đầu miền Nam lúc đó. Bài thơ có đoạn: “Này em lớp sáu này em nhỏ/ Em hãy dừng chân một chút lâu/ Chị vuốt tóc em rồi chị nhớ/ Tóc em thơm ngát mùi hương cau/ Hương cau vườn chị xa như tuổi/ Ba má chị nằm dưới mộ sâu/ Vườn cũ nhà xưa tàn với lửa/ Chị đi về hai buổi âm u…”

Cạnh đó là thơ của Nguyễn Đăng Châu trong báo Đất Hồng trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng: “Anh nói bé nghe chuyện làng chuyện xóm/ Chú Bảy anh Ba ngã xuống hôm nào/ Đường quê mình đi dày công nuôi nấng/ Bằng xác bà con sữa mặn má đào…”

Lê Văn Nghĩa dẫn lời tựa giai phẩm xuân 1972 của trường Tân Văn- Tân Việt: “Tuổi trẻ thì bất hạnh bởi thực tại phũ phàng; lớn lên trong lửa đạn để tha thiết mơ vói đến hình ảnh thanh bình-hình ảnh chưa một lần diện kiến. Ở ý nghĩa đó, tuyển tập giai phẩm nầy hiện diện mong bày tỏ phần nào những khát vọng của lớp người trẻ tuổi…” Như vậy bất chấp chủ điểm Xuân Tết, những cây bút trẻ còn trên ghế nhà trường vẫn đầy ưu thời mẫn thế.””Trước 1975, học sinh chững chạc hơn bây giờ,” Phạm Công Luận nhận định.

“Vì các hoạt động ngoại khóa ở Sài Gòn hết sức sôi nổi, thứ nữa thời chiến bao giờ giới trẻ cũng trưởng thành sớm.” Theo Trịnh Bách, chính việc làm báo góp phần làm cho học sinh thời đó “đứng đắn” hơn, ngoài cũng do chương trình giáo dục. Tức là lớp 1 có cả môn “phổ thông thường thức” dạy quét nhà, rửa rau, rửa bát… trong khi các nhà khá giả cho con đi học thêm vẽ, nhạc. Lớp 4-5 ngoài bơi, học cả phụ mẹ dưỡng nhi, dưỡng thai. Lớp 9 ngoài học về giới tính trên lớp, giáo viên còn dẫn học sinh đến rạp xem những bộ phim đặc dụng như Helga và chồng của Thụy Điển.”

Mỗi lớp cấp II trở lên đều có một học sinh làm trưởng ban báo chí – chịu trách nhiệm làm bích báo lớp. Mỗi trường lại có vài thi văn đoàn do học sinh tự lập để trau dồi việc viết lách, ngoài phục vụ nội san còn gửi các báo bên ngoài như Thiếu Nhi, Tuổi Ngọc, Thằng Bờm, Tuổi Hoa…

Báo tường hay nội san là hoạt động không có gì lạ tại các trường phổ thông thời gian gần đây, nhưng phát triển chuyên nghiệp đến mức trở thành “ngoại san” như thuở trước 1975 chắc chắn bất khả, và cũng không cần thiết. Đơn giản, mỗi thời phải có cách làm, cách chơi riêng để đánh dấu hoa niên.

 

More reading

Singapore trong tâm trí người Việt

BBC

Năm huyền thoại trong tâm trí người Việt về Singapore

Với nhiều người Việt Nam, Singapore ngày nay là một hình mẫu của phát triển hiện đại, thịnh vượng, tiện nghi và kỷ luật.

Raffles
Sir Thomas Stamford Raffles của Anh
lập thương cảng Singapore đầu năm 1819
từ một làng chài

 Có lãnh đạo Việt Nam muốn TP HCM phấn đấu ‘sánh vai’ với Singapore.
Điều này không lạ vì Singapore nay còn làm ‘ông chủ cũ’ Anh Quốc ngưỡng mộ.
Thăm Singapore đầu năm 2019, Ngoại trưởng Anh Jeremy Hunt nói “Anh Quốc muốn học nhiều thứ từ Singapore”.

Đảng Bảo thủ thì mơ Anh sau Brexit thành “Singapore của Biển Bắc”, tự do, thịnh vượng và chỉ bỏ neo bên bờ châu Âu mà không còn gắn kết với EU.

Thật là chuyện gió đổi chiều sau 200 năm.
Vì 28/1 vừa qua là dịp kỷ niệm ngày Sir Thomas Stamford Raffles lập thương cảng Singapore năm 1819 từ một làng chài.

Nhưng để hiểu về Singapore và tránh các ngộ nhận và rút ra bài học đúng, có lẽ cũng cần xem lại một số huyền thoại về đảo quốc này.

Huyền thoại 1: Từ hòn đảo nghèo nàn thành đô thị hiện đại

Đây là huyền thoại do chính đảng Nhân dân Hành động cầm quyền ở Singapore không ngừng tô vẽ.

Cố Thủ tướng Lý Quang Diệu đã rất khéo trong việc tạo ra ‘story’ độc đáo về nước ông “từ thế giới thứ ba vươn lên thế giới thứ nhất” chỉ trong một hai thế hệ.

Đúng là khi tách khỏi Liên bang Malaysia để độc lập năm 1965 thì ngân quỹ quốc gia Singapore rất ít tiền.

Nhưng Singapore đã thừa hưởng toàn bộ cơ sở hạ tầng của một thương cảng “thuộc hàng giàu có bậc nhất thế giới” ngay từ thế kỷ 19, theo Britannica.

Năm 1867, Singapore chuyển quy chế từ một cảng tự do (free port) của chính quyền Bengal thuộc Anh sang quy chế thuộc địa (colony), do London trực trị.

 Singapore năm 1900
Một đám rước của cộng đồng Hoa tại Singapore năm 1900

Các khoản thu hàng năm cứ dần tăng lên hàng chục lần kể từ năm 1824.

Cuối thế kỷ 19, Singapore đã là ‘hòn ngọc Đông Nam Á’ của London, với lãi ròng hàng năm 90 triệu đô la (1,7 tỷ ngày nay) với 220 nghìn dân.

Khu phố chính, các dinh thự, trường học, nhà thờ được xây theo mô hình Jackson thẳng tắp, đẹp đẽ.

Giữa thế kỷ 19, Hong Kong có nhiều dịch bệnh khiến Anh chọn Singapore làm nơi đóng hạm đội châu Á.

Đến năm 1923, Anh đầu tư 60 triệu bảng vào quân cảng này và tới Thế Chiến 2 đã có 80 nghìn quân đóng ở Singapore.

Năm 1942, Nhật Bản thắng Anh, chiếm Singapore, đổi tên đảo thành Chiêu Nam và coi là phần lãnh thổ Nhật.

Một đô thị, hải cảng như thế không thể là hòn đảo ‘nghèo nàn’.

Huyền thoại 2: Singapore luôn là xứ sở của kỷ luật và đạo đức

Singapore từ thời Lý Quang Diệu đã tiếp quản luật Anh, giáo dục Anh và những giá trị khắc kỷ về hành chính của kỷ nguyên Victoria để lại, gồm cả hình phạt roi.

Đánh roi không phải hình phạt người Anh nhằm hạ nhục người bản địa mà luôn được dùng trong trường nội trú ở Anh cho cả con nhà quý tộc.

Ngày nay, Singapore vẫn trừng phạt các vi phạm hành chính rất nặng và xử tử dân buôn ma tuý.

Nhưng hòn đảo ban đầu lại phất lên nhờ thuốc phiện.

Jeevan Vasagar nhắc lại rằng trong thế kỷ 19, nguồn lợi buôn nha phiến vào Trung Quốc đem lại cho Singapore sự giàu có chưa từng thấy.

“Chừng 30-55% nguồn thu của chính quyền thuộc địa tại Singapore đến từ buôn nha phiến, và vô số dân buôn Trung Hoa làm trung gian cho người Anh cũng giàu lên nhanh chóng.”

Bản thân Singapore thu nhận hàng vạn di dân từ Trung Hoa đến làm ăn, và đây là một xã hội xô bồ, năng động mà cũng đầy tệ nạn.

Jean Abshire trong cuốn Lịch sử Singapore mô tả thương cảng này ‘vô luật lệ như nước Mỹ thuở chinh phục Viễn Tây’ (lawless frontier).

Người Anh làm chủ nhưng các doanh nhân, dân phiêu lưu Armenia, Pháp, Do Thái, Mỹ…đều có mặt, cùng người Hoa, Mã Lai, Ấn…đến Singapore tìm vận may.

“Có một xã hội người Hoa hút thuốc phiện, đĩ điếm, cờ bạc, cướp biển và những tay lính thủy Anh say xỉn, bạo lực” và đủ các loại cò mồi, lừa đảo.

Người Hoa cũng thường xuyên dùng thuyền đem di dân nhập lập vào Singapore để tăng quân số cho dân làm thuê được các bang hội và băng đảng kiểm soát.

Huyền thoại 3: Singapore phát triển nhờ các giá trị châu Á

Singapore
Hải quân Singapore duyệt đội danh dự ở quân cảng Changi

Sau khi nhận trao trả độc lập, Singapore không làm cách mạng đập bỏ ‘quá khứ thực dân’ theo trào lưu trong vùng khi đó.

Trái lại, ông Lý Quang Diệu đã tiếp nhận hoàn toàn di sản của Anh về luật pháp, kể cả luật giao thông, và nhất là hệ thống giáo dục, ngôn ngữ từ Anh Quốc.

Ông Lý Quang Diệu từng nói nhờ phổ cập tiếng Anh là Singapore liên kết được nhóm dân Hoa, Ấn và Mã Lai đã thành công kinh tế.

Tuy thế, là người tốt nghiệp Cambridge và LSE ở Anh ra, ông Lý lại nêu ra về giá trị châu Á để tạo sự tự tin cho người Singapore.

Nhờ hệ thống toà án xử theo luật Anh mà Singapore có thể duy trì vai trò ‘trọng tài’ trong các thương vụ quốc tế.

Càng gần đây, lo ngại Trung Quốc lũng đoạn luật pháp Hong Kong lại khiến dân làm ăn tiếp tục tìm đến Singapore.

Huyền thoại 4: Singapore là thương cảng độc đáo nhất Đông Nam Á

Hàng trăm năm trước khi người Anh tới, đảo Singapura đã là một điểm trung chuyển hàng hóa của các vương quốc mà nay thuộc về Malaysia hoặc Indonesia.

Người Singapore ngày nay cũng nhắc lại lịch sử không phải 200 năm mà là 700 năm của hòn đảo, từ thời kỳ văn hóa Ấn giáo và Hồi giáo.

Cuốn sách ‘Singapore: A 700-Year History’ của chính phủ công bố gần đây bác bỏ huyền thoại về “một làng chài vắng vẻ” khi Sir Stamford Raffes tới:

“Singapore khi đó đã là một bến cảng sôi động của vương quốc Hồi giáo Johor-Riau…”

Vai trò của người Anh là hiện đại hóa một truyền thống thương mại đã có trong lịch sử hải dương bên Eo biển Malacca.

Thậm chí lịch sử phát triển của Singapore không phải lúc này cũng “thuận buồm xuôi gió”.

Ở gần, Singapore vẫn phải cạnh tranh với ít nhất là ba thương cảng khác : Malacca, Penang, Batavia (Jakarta ngày nay).

Ở xa hơn, Singapore bị Calcutta và Hong Kong cạnh tranh mạnh và đã có lúc – giống như hiện nay – bị Hong Kong giành nguồn lợi từ giao thương với Trung Quốc.

Huyền thoại 5: Singapore từng kém Sài Gòn

Như đã nói ở trên, Singapore từng đóng góp rất lớn cho thương mại của Đế quốc Anh tại châu Á về lợi tức.

Nhưng nói là Singapore từng kém cả Sài Gòn thì không hoàn toàn đúng.

Hai đô thị này có hai vai trò khác nhau, tùy vào ông chủ thuộc địa thời đó.

Ban đầu, Singapore là thương cảng thuộc chính quyền Bengal của Anh và sau thêm nhiệm vụ làm quân cảng.

Còn Sài Gòn vốn là thủ phủ của Đông Dương từ 1887 đến 1902, nên có vai trò chính trị quan trọng hơn với Pháp.

Nhưng về độ trù phú, giàu có thì Singapore thuở ban đầu đã hơn Sài Gòn, như tường thuật của Phạm Phú Thứ ((1821-1882) viết trong Ký sự đi Tây (1863).

Số phận của Singapore lên xuống cùng kinh tế khu vực.

 Sài Gòn
Cảng Sài Gòn năm 1950

Singapore 1972

Hai tiếp viên Shareen Loh và Lily Tian của Singapore Airlines
trong chuyến bay của phi cơ Boeing 707 đầu tiên của hãng này
đến sân bay Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn năm 1972

Năm 1842, Anh cho lập cảng Hong Kong, và thương mại của Singapore bị sụt giảm ngay.

Sau đó, việc Pháp lập ra hai cảng Sài Gòn và Hải Phòng ở Đông Dương cũng làm vị thế của Singapore tiếp tục giảm đi.

Singapore từ chỗ kiếm tiền nhờ buôn nha phiến và trà đã nhanh chóng tìm nguồn lợi kinh doanh ở các vùng xung quanh: Malaysia, Indonesia và thành công trở lại.

Sang đầu thế kỷ 20 Singapore thành cảng xuất khẩu thiếc và nông sản lớn nhất Đông Nam Á.

Sau này, khi xảy ra Chiến tranh Việt Nam, Singapore cũng kiếm lời nhờ làm dịch vụ cho quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam.

Còn cụ thể về câu nói của Lý Quang Diệu so sánh Singapore với Sài Gòn thì đã có nhiều diễn giải sai.

Ông Lý từng nói rằng, “Nếu ai đó nhìn vào Sài Gòn và Singapore năm 1954 thì người đó sẽ nghĩ Singapore hết thời rồi, chứ không phải Sài Gòn” (If one looked at Saigon and Singapore in 1954, one would have said Singapore was the goner, not Saigon).

Nhưng trên thực tế thì Singapore cuối cùng đã thành công, còn VNCH thì không, vì nhiều lý do.

Nguyên văn câu của ông Lý Quang Diệu vế này là “Saigon can do what Singapore did.

Đó là vào năm 1954, khi cuộc chiến chưa tàn phá Nam Việt Nam.

Còn tới 1974, Singapore đã có 2,3 triệu dân, đông hơn thủ đô VNCH Sài Gòn (325 nghìn), và có thu nhập bình quân đầu người cao hơn Nam Việt Nam.

Sự thật mang tầm huyền thoại về Singapore là tính năng động và thực dụng của lãnh đạo đảo quốc, gió chiều nào cũng xoay buồm ra biển được.

Vẫn trong câu nói về Sài Gòn, ông Lý cả quyết, “Cứ tìm được nhóm người có năng lực là làm được” (If you can find the group of men who could do it).

Điều quan trọng nhất là con người.

singapore

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long (áo hồng)
thăm tầng 49 tòa nhà Bitexco ở TP Hồ Chí Minh tháng 3/2017

 

More reading

Nhật Bản bỏ Tết âm lịch như thế nào

RFA

Người dân Nhật đón năm mới dương lịch tại Đền Minh Trị, Tokyo. 1/1/2019.
Người dân Nhật đón năm mới dương lịch tại Đền Minh Trị, Tokyo. 1/1/2019.

 

Có một dân tộc Đông Á nhưng không đón Tết nguyên đán âm lịch, đó là dân tộc Nhật Bản.

Nhật dịp xuân mới âm lịch, mời độc giả nghe học giả Đỗ Thông Minh, một nhà nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ sống rất lâu tại Nhật Bản cho biết một số điều xung quanh việc người Nhật bỏ Tết âm lịch hơn 100 năm trước đây.

Học giả Đỗ Thông Minh: Họ là một quốc gia Đông phương nên cũng có ngày Tết ta. Rồi tiếp xúc với phương Tây họ có thêm ngày nữa thành ra hai ngày Tết âm lịch và dương lịch như chúng ta vậy. Nhưng tới thời Minh Trị Thiên Hoàng, lên ngôi năm 1868, tức trước trận Mậu Thân của mình đúng một thế kỷ, nói vậy để dễ nhớ, và năm năm sau, tức 1872, với trào lưu đổi mới, canh tân để đuổi theo Tây phương, họ thấy hai cái Tết như vậy lộn xộn. Hồi đó người Nhật đã mạnh hơn mình nhiều trong chuyện giao dịch quốc tế, hết Tết tây rồi lại Tết ta, nó trở ngại, với lại hai cái giao dịch nó gần nhau quá, đâm ra nó phí thì giờ. Thế là người Nhật bèn đổi, nhập hai cái Tết làm một. Mà bây giờ cuộc sống của mình không còn ảnh hưởng mặt trăng nhiều nữa, nên cái âm lịch không còn ảnh hưởng nhiều mà vấn đề là hội nhập với trào lưu thế giới. Nhưng phong tục Tết họ không đổi, mà chỉ dời ngày thôi.

Cho tới ngày hôm nay vậy là người Nhật đã đổi 146 năm rồi. Trên lịch của Nhật chỉ còn ngày tây, và không còn người Nhật nhắc đến Tết ta nữa cả.

Kính Hòa RFA: Trong hơn 100 năm đó thì có khi nào người Nhật tiếc nuối những ngày tháng cũ đó không, vì ta biết họ cũng là một dân tộc rất trọng truyền thống?

Học giả Đỗ Thông Minh: Bất cứ quốc gia nào cũng có sự tranh chấp giữa mới và cũ. Thành ra ban đầu tôi nghĩ là người Nhật cũng tranh cãi dữ lắm. Như Việt Nam mình bây giờ mỗi năm tới Tết, thì cứ rộ lên chuyện có nên đổi hay không.

Một trong những người nêu ý kiến này là ông Võ Tòng Xuân. Ông học nông nghiệp bên Phi Luật Tân, nhưng có thời gian sang Nhật nghiên cứu trình luận án tiến sĩ về nông nghiệp. Ông cũng là đại biểu quốc hội, và có vài lần ông đưa vấn đề này lên. Nhưng dường như một số trí thức khác của Việt Nam cho rằng âm lịch nó đã thấm vào mình thì vậy nó mới có không khí Tết, chứ ăn tết dương lịch thì nó không có không khí tết. Mình còn đi đôi với nào là ông táo về trời, giao thừa, lễ lạt đủ thứ hết, mà đổi thì nó tréo cảng ngỗng, đổi sẽ khó.

Khoảng tám thế hệ rồi, người Nhật không còn ai quan tấm đến chuyện đó (Tết âm lịch) hết.
-Học giả Đỗ Thông Minh.

Vấn đề ở đây là quán tính văn hóa. Nhật cũng biết điều đó, họ cũng rất bảo thủ chứ không phải không. Nhưng trước trào lưu đuổi theo Tây phương, để hòa nhập và tiến bộ, cho nên họ dứt khoát, mặc dù lúc đầu cũng có dư luận phản đổi dữ lắm.

Nhưng đã một thế kỷ rưỡi rồi, khoảng tám thế hệ rồi, người Nhật không còn ai quan tấm đến chuyện đó hết.

Kính Hòa RFA: Là một người Việt Nam, có kinh nghiệm với người Nhật, sống ở Nhật rất lâu năm, thì theo ông với tình hình Việt Nam hiện tại, xã hội Việt Nam hiện tại thì việc đổi sang một cái tết duy nhất là dương lịch thì chúng ta sẽ được lợi gì? Không lợi gì?

Học giả Đỗ Thông Minh: Đối với một vấn đề văn hóa lớn của dân tộc như vậy thì nó có nhiều cách nhìn, có lợi hay không lợi, và chúng ta có chứng minh của nước Nhật rồi. Vấn đề nhưng chúng tôi trình bày lúc nãy, đó là quán tính văn hóa. Bây giờ nếu mà hỏi thì chúng tôi nói rằng hai cái tết nó như vậy, nghỉ nhiều, mà trong thời gian nghỉ không giao dịch quốc tế được.

Việt Nam lại có vấn đề giao thông rất là hỗn loạn, tai nạn lúc tết nhiều lắm.

 

Đón Tết âm lịch tại phố Tàu Yokohama. 2017.


Đón Tết âm lịch tại phố Tàu Yokohama. 2017.

 

Thành ra nói về cái lợi thực dụng thì nên đổi, nhưng mà về mặt văn hóa thì phải có thời gian để chuẩn bị tin thần. Mà cái thay đổi này nó là quán tính văn hóa, nó là một khía cạnh trong nhiều vấn đề của người Việt. Tôi cho rằng nếu mà đổi được thì nó cũng là một cái kích thích để đổi nhiều cái tư duy, cái văn hóa khác.

Việt Nam mình thấy cái gì không lợi thì nên đổi, chứ nếu ôm khư khư cái quán tính văn hóa thì sự vươn lên của xã hội mình khó bắt kịp thế giới.

Kính Hòa RFA: Nhưng nếu nhìn ở khía cạnh khác, ví dụ như ở Mỹ, hai kỳ lễ Tạ ơn và Giáng sinh rất gần nhau. Và theo một số phân tích thì lễ lạt cũng là dịp mua sắm, kích thích kinh tế. Vậy nếu chúng ta giữ hai kỳ lễ Tết theo hướng đó thì sao?

Đối với một vấn đề văn hóa lớn của dân tộc như vậy (Tết âm lịch) thì nó có nhiều cách nhìn, có lợi hay không lợi.
-Học giả Đỗ Thông Minh.

Học giả Đỗ Thông Minh: Vâng chắc chắn. Như chúng tôi đã nói, một vấn đề lớn luôn có cái lợi, cái hại. Cái hại là nghỉ nhiều, sức sản xuất chắc chắn là xuống rồi, rồi tai nạn nữa. Nhưng mà kích thích nền kinh tế bằng mua sắm cũng có nữa.

Thì mình có kinh nghiệm Nhật Bản, họ cũng y như mình thôi. Ở Nhật vào dịp tháng năm họ nghỉ rất dài đến 10 ngày, với nhiều cái lễ dính liền nhau.

Vấn đề làm việc và nghỉ là một sự quân bình cho thương trường. Khi xã hội thay đổi thì sự sắp xếp, cơ cấu, bên sản xuất và bên tiêu thụ phải thích ứng. Giống như ngày xưa buôn bán trao tay, bây giờ online, internet hết.

Kính Hòa RFA: Hôm nay là đúng mùng một Tết âm lịch, đứng ở Nhật, một nơi bỏ Tết âm lịch lâu lắm rồi, ông có nhớ không khí Tết âm lịch Việt Nam không?

Học giả Đỗ Thông Minh: Thật ra bên Nhật vẫn có không khí Tết âm lịch vì có ba khu phố Tàu, Yokohama, Kobe, và Nagasaki. Và phố Tàu bên Nhật có đặc điểm là rất sạch sẽ. Nói đến phố Tàu ta nghĩ đến dơ, nhưng sống với Nhật thì không dơ được.

Họ là phố Tàu, họ ăn hai cái tết. Rồi một số người Nhật cũng vui chơi. Người Nhật đốt pháo bông vào mùa hè, còn Tết thì họ lắng mình với thiên nhiên, về quê thôi. Thành ra Tết thì âm thầm vắng lặng chứ không rộn ràng như mùa hè. Mùa hè đốt pháo bông lớn lắm. Đối với người Nhật thì Tết âm thầm thôi, nhưng nếu thích rộn ràng thì xuống phố Tàu.

Phố Tàu đón tết tây theo Nhật rồi làm tết ta luôn. Cộng đồng người Việt chúng ta hay cộng đồng người Hoa tại đất Nhật cũng ăn hai cái tết. Người Nhật chỉ một thôi.

Kính Hòa RFA: Tức là nhà của học giả Đỗ Thông Minh vẫn có bàn thờ gia tiên trong mấy này này phải không ạ?

Học giả Đỗ Thông Minh: Thực ra mình ở hải ngoại thì bàn thờ gia tiên không đến như vậy đâu, nhưng nhà mình có thờ ông cụ bà cụ chút xíu, tết có làm cái mâm chút xíu. Mà cộng đồng mình bên đây nhỏ lắm, có tổ chức Tết ta nhưng mà năm nay lại rơi vào thứ ba, không được nghỉ nên không làm lớn được.

Lâu rồi không có những hội Tết tưng bừng như ở Mỹ, mà chỉ có những nhóm nhỏ tụ tập tại nhà thôi. Rồi nó cũng trôi qua âm thầm, một ngày như mọi ngày.

Kính Hòa RFA: Rất cám ơn học giả Đỗ Thông Minh đã góp lời cho mùa xuân năm nay, kính chúc ông một năm mới, dù ở trên đất Nhật vẫn có một không khí tết như ở Việt Nam vậy.

 

More reading

Nguyễn Gia Kiểng: Vì sao tôi trở về và lại ra đi?

BBC

Ã?ng Nguyá»?n Gia Kiá»?ng
Ông Nguyễn Gia Kiểng từng làm Phụ tá Bộ trưởng Kinh tế
thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa
và phụ trách một số lĩnh vực cố vấn về kinh tế và kỹ thuật

Ngồi trong khu vườn của một ngôi nhà mang kiến trúc khá đặc trưng Pháp ở vùng Lognes, ngoại ô thuộc mạn Đông Paris, tác giả của biên khảo “Tổ Quốc Ăn năn” được biết đến từ vài chục năm trước chia sẻ với BBC về cuộc đời mình.

Ông Kiểng kể câu chuyện ông du học, về lại Việt Nam, đi “học tập cải tạo” sau 30/4/1975, trở thành chuyên gia trong chế độ mới, rồi lại rời Việt Nam sang Pháp từ đó đến nay ra sao.

Kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng kể: “Tôi sang Pháp hai lần, lần đầu tiên là năm 1961. Sau khi học xong trung học, tôi được học bổng du học tại Pháp. Tôi du học sau sáu năm thì tốt nghiệp. Rồi tôi ở lại làm việc vì tôi nghĩ rằng mới ra trường thì không thể nào có kinh nghiệm được.

“Điều quan trọng là không phải học để tốt nghiệp lấy bằng cấp, mà là làm việc, tiếp xúc với người phương Tây, biết cách làm việc của họ. Cho nên tôi có làm việc, ở lại Pháp sáu năm. Tôi về Việt Nam phục vụ từ năm 1973.

“Lúc đầu tôi làm việc ở ngân hàng. Mới đầu, chúng tôi được quản lý một quỹ đầu tư. Sau đó tôi có sang bên Bộ Kinh tế, Việt Nam Cộng Hòa và làm Phụ tá Bộ trưởng Kinh tế cho đến ngày 30/4/1975.

“Sau đó cũng như số phận của các viên chức miền Nam, tôi có bị đi gọi là tập trung cải tạo” trong vòng ba năm rưỡi, rồi tôi ra và có làm chuyên gia dưới chế độ Cộng sản trong một thời gian. Cho tới năm 1982 thì tôi được chính quyền Pháp can thiệp cho và tôi được sang Pháp từ cuối năm 1982. Tôi hành nghề kỹ sư, tôi về hưu cách đây 10 năm.”

Hồi cố điều nổi bật sau những năm tháng đã qua, ông Nguyễn Gia Kiểng nói:

“Số phận của mình đều do những yếu tố bất ngờ hết. Khi phe Cộng sản chiến thắng ngày 30/4 đó, thì tôi là một Phụ tá Bộ trưởng, cấp bậc tương đương với một Thứ trưởng. Thì dĩ nhiên cấp bậc thấp hơn người ta đã phải đi học tập cải tạo rồi.

“Tôi không trình diện để đi học tập cải tạo và tôi tìm cách trốn khỏi Việt Nam, nhưng mà tôi bị bắt ở trở lại Việt Nam, do đó tội của tôi tương đối nặng hơn. Tôi có bị bắt giam hơn ba năm. Trước khi được làm hồ sơ để chuyển sang diện học tập bình thường, thì vào lúc đó họ lại nhận ra một điều.

“Đó là ở miền Nam lúc đó có những máy điện toán và là máy IBM. Trước đó, họ không biết chúng dùng vào việc gì nhưng sau đó họ thấy rằng các cố vấn Nga nói rằng những chiếc máy này rất cần thiết, thành ra họ có đi tìm.

GETTY IMAGES

Miền Nam Vi�t Nam trư�c 30/4/1975

Miền Nam Việt Nam đã từng trải nghiệm một mức độ phát triển nhất định
về kinh tế, kỹ thuật và thị trường ở khu vực
dưới thời Việt Nam Cộng Hòa

“Lúc tôi được ra học tập, ra khỏi trại, tôi mới biết rằng có những văn kiện tìm kiếm tôi, vì hồi đó tôi có là Trưởng ban Điện toán của Bộ Kinh tế. Tôi là Phụ tá Bộ trưởng, nhưng tôi lại là chủ tịch ba ủy ban là ủy ban điện tin học, ủy ban thuế khóa và ủy ban kế hoạch.

“Có lẽ họ nhìn thấy rằng tôi có khả năng về tin học, hơn nữa hiểu về những máy điện toán rất nhiều, thành ra họ trả tự do cho tôi và biến tôi trở thành một chuyên viên của chế độ.”

Hợp tác vì ai, cái gì?

Kỹ sư, nhà biên khảo kể lại rằng lúc đầu ông cũng bị theo dõi, nhưng ông đã luôn tỏ ra nói thẳng, nói thật và chỉ mong muốn đóng góp, hợp tác phục vụ cho đất nước, dân tộc, ông Nguyễn Gia Kiểng nói tiếp:

“Mới đầu họ theo dõi, nhưng về sau họ thấy tôi nói thực, nói thẳng. Phải nói vào ngày 30/4 tôi đã chấp nhận thua trận và tôi cũng không ra đi vì tôi nghĩ rằng một dân tộc có lúc phải tranh đấu với nhau, có thể va chạm, nhưng một dân tộc không thể cứ tiếp tục nội chiến, cứ xung đột tới cùng thì không còn là dân tộc.

“Cho nên lúc đó tôi đã chấp nhận để đóng góp với tư cách là một người thua trận, tức là một người đem khả năng khoa học kỹ thuật mà mình biết để góp phần đóng góp cho đất nước một phần nào hay phần đó. Nên khi tôi ra khỏi chỗ học tập, nhân tiện tôi xin kể một chuyện, tôi gặp một ông cựu Bộ trưởng của Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam của phe cộng sản. Đó là ông Trương Như Tảng.

“Lúc đó ông ấy bất mãn và ông là giám đốc một công ty, tôi lúc đó làm trong Ban kỹ thuật của Thành phố. Ông đó muốn đóng cửa một nhà máy. Nhưng lúc đó tôi ở ban kỹ thuật của thành phố, tôi không đồng ý.

“Ông hỏi tôi tại sao anh là một người chế độ cũ, tại sao anh lại ủng hộ chế độ mới như vậy, mà anh lại không đồng lòng đóng cửa luôn công ty đó đi? Chế độ này đâu có phục vụ gì ai?

“Tôi nói: tôi là một kỹ sư. Một kỹ sư mà nhìn thấy một nhà máy có vấn đề, gặp khó khăn, thì cũng giống như là một bác sỹ nhìn thấy một bệnh nhân. Bổn phận bác sỹ nhìn thấy một bệnh nhân là chữa, bổn phận của một người kỹ sư có lương tâm nghề nghiệp của mình là phải tìm cách cứu nhà máy đó. Nhà máy này tôi thấy có thể cứu được, thì tôi thấy là không đồng ý để ông đóng cửa.”

Chia sẻ con đường từ quyết định “hợp tác” đó, rồi ra nước ngoài trở lại và trở thành nhà biên khảo mà cuốn sách “Tổ Quốc Ăn năn” là một trong các tác phẩm, kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng nói:

Ã?ng Nguyá»?n Gia Kiá»?ng

Ông Nguyễn Gia Kiểng từng là chuyên gia về tin học
và có thời gian làm việc dưới chế độ mới ở miền Nam Việt Nam sau 30/4/1975

“Phải nói rằng chữ hợp tác đó không phải là tôi hợp tác với chế độ, chủ nghĩa cộng sản là điều tôi đã phản bác từ thời thanh niên, cách quản lý đất nước của họ, cách phân biệt đối xử. Sự thực theo tôi cuộc nội chiến vẫn tiếp tục sau ngày 30/4, chỉ có điều là cuộc nội chiến đơn phương, một bên có bạo lực và một bên không có. Sau ngày 30/4 không có “hòa bình” trong dân tộc.

“Vẫn có những người thắng trận “đầy đọa” những người thua trận, cho nên về chế độ thì tôi hoàn toàn không hợp tác, tôi hợp tác với đất nước Việt Nam, tôi làm những gì mà tôi có thể làm cho đất nước Việt Nam trong hoàn cảnh của một người không thể làm gì khác. Tôi là người Việt Nam và lúc nào tôi cũng muốn phục vụ, trong tất cả mọi hoàn cảnh, tôi phục vụ đất nước Việt Nam, tôi hợp tác với đất nước Việt Nam, nhưng không phải là tôi hợp tác với chế độ.

“Sau đó, vai trò của tôi cũng không còn, dầu sao đặc tính của chế độ cộng sản như mọi người cũng biết, họ rất là nghi kỵ, họ vẫn nhìn chúng tôi như là kẻ thù, những người nào không thuộc đảng của họ, thì họ không thể duy trì ở một chức vụ cao, như là một chuyên viên, chuyên gia cao cấp được, cho nên vẫn có sự theo dõi, vẫn có sự nghi kỵ, mặc dù chúng tôi không làm gì cả.”

Dám “bắt Tổ Quốc ăn năn”?

Về lý do viết cuốn biên khảo “Tổ Quốc Ăn năn” và cách hiểu thế nào là Tổ Quốc, tác giả Nguyễn Gia Kiểng chia sẻ:

“Cho đến lúc tôi được chính quyền Pháp can thiệp thì tôi sang bên này. Cùng với một số anh em, chúng tôi đã lập ra một Tập hợp Dân chủ đa nguyên và chúng tôi chia sẻ với nhau là một dân tộc sau một cuộc nội chiến, cũng giống như một cặp vợ chồng, một gia đình sau một cuộc xung đột lớn, chúng ta chỉ có hai chọn lựa thôi: một là chúng ta hòa giải để cuộc sống chung tiếp tục, hai là chúng ta không chấp nhận hòa giải và chấp nhận tan vỡ.

“Không chấp nhận hòa giải sau một cuộc nội chiến tương đương với việc để quốc gia tan vỡ, nhiều người không biết điều đó. Cho nên trong tinh thần đó, để nói lên tinh thần đó, tôi có viết cuốn Tổ Quốc Ăn năn, tôi đặt ra câu hỏi Tổ Quốc là ai? Theo định nghĩa của tôi, Tổ Quốc là mọi người Việt Nam, người Việt Nam phải nghĩ lại. Tôi nghĩ như thế.

“Tức là mọi người Việt Nam đều phải nghĩ rằng họ đã có một cái lỗi gì đó, mình phải ăn năn, mình phải xét lại cách ứng xử của mình đối với đất nước, nhiều người cứ nói là tôi coi thường Tổ Quốc, bắt Tổ Quốc phải ăn năn. Họ nghĩ rằng Tổ Quốc là thiêng liêng.

“Tôi không nghĩ như thế, tôi nghĩ Tổ Quốc là bạn với tôi, là con tôi, là cha tôi, là tổ tiên tôi, là những người thành công, cũng như những người thất bại – là tất cả chúng ta trong suốt dòng lịch sử. Đó là Tổ Quốc!

Ã?ng Nguyá»?n Gia Kiá»?ng
Tác giả Nguyễn Gia Kiểng
bên một số cuốn sách mà ông viết hoặc tham gia

“Đáng lẽ chúng ta yêu nước trước hết là yêu đồng bào. Chúng ta phải thể hiện lòng yêu nước đó bằng cách yêu quý, khoan dung với người đồng bào của chúng ta. Trái lại trong dòng lịch sử, chúng ta nhân danh Tổ Quốc để “giết người” chống chúng ta, chúng ta nhân danh Tổ Quốc để “buộc tội”, để “bỏ tù”, có khi để xử tử tội phản quốc. Nhưng chúng ta không nhân danh Tổ Quốc để mà tha thứ, để mà hàn gắn với nhau, để quý trọng nhau.

“Theo tôi từ nay trở đi nếu có một điều chúng ta phải suy nghĩ lại, nhân tiện nói về Tổ Quốc, tôi nghĩ rằng chúng ta phải quan niệm Tổ Quốc là một tình yêu trước hết, chứ không phải là một sự thù hận.”

Viết gì cho một chương mới?

Vài chục năm trước, sau khi trở lại Pháp, ông Nguyễn Gia Kiểng đã hoàn tất và cho công bố cuốn biên khảo luận thảo luận về chính trị với tựa đề “Tổ Quốc Ăn năn”, khi được hỏi là nếu hiện nay muốn viết thêm một Chương bổ sung hay tiếp nối cho cuốn biên khảo, thì sẽ viết gì, tác giả nói:

“Tôi sẽ viết về những cơ hội đã bỏ lỡ. Tôi nghĩ rằng chúng ta đã có những cơ hội mà chúng ta đã bỏ lỡ. Cơ hội thứ nhất là sau Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam với chương trình rất hoành tráng, rồi nó hoàn toàn thất bại, không thực hiện được bất cứ một phần nhỏ nào, trong bất cứ mục tiêu nào.

“Thời gian đó đáng lẽ đã phải là một thời gian nghĩ lại. Nghĩ lại trước hết là những người lãnh đạo ở chế độ Cộng sản phải nghĩ lại, những ông như là Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, ông Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, những người đó, hay ông Lê Đức Anh v.v…, những người đó phải nghĩ lại.

“Nhưng phần còn lại, những người thuộc phe thua trận như chúng tôi cũng phải giúp họ nghĩ lại. Bằng một thái độ nói: thôi, những chuyện gì đã qua, chúng tôi cũng bằng lòng bỏ qua. Các ông không sợ gì cả nếu như các ông thay đổi, nếu các ông thực hiện đường lối hòa giải dân tộc, thực sự thì có chúng tôi.

“Chúng tôi biết các ông có lỗi, chúng tôi cũng có phần có lỗi, nhưng chúng ta nên nhìn về tương lai hơn là về quá khứ. Tôi nghĩ đó là vào thời điểm 1980 khi chương trình hoành tráng của Đại hội IV thất bại.

“Tôi đã làm việc trong chế độ, tôi biết là có những hoang mang, có nhiều người biết là chủ nghĩa này không thành công, có nhiều biết là chế độ này thất bại, họ muốn nghĩ lại, nhưng một phần họ không đủ can đảm nghĩ lại và một phần vì điều kiện xã hội cũng làm cho họ không dám nghĩ lại.

“Lần thứ hai tôi nghĩ là một cơ hội rất là lớn cho nhiều dân tộc, như là các dân tộc ở Đông Âu, hay cả một nước ở châu Á tôi nghĩ đến là nước Mông Cổ, Ngoại Mông, là khi mà bức tường Berlin sụp đổ. Đáng lẽ lúc đó chúng ta sẽ gạt tất cả những ưu tư về chủ nghĩa, chúng ta hãy nhìn nhau hãy nhìn là anh em, hãy nhận lại bạn bè. Đó là một cơ hội rất lớn.

“Thế nhưng mà ở trong nước có những người lại nghĩ rằng phải kiên trì, không còn Đảng thì không còn mình, họ nghĩ rằng sau những gì họ đã làm với người khác, những người khác sẽ không tha thứ cho họ, cái đó ở trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại và một phần những dư luận ở miền Nam lại cho rằng đây là một cơ hội để ‘dứt điểm chế độ’ và có thể để ‘trừng phạt’ những ‘tội ác cộng sản’ chẳng hạn.

“Cuối cùng là những người cộng sản tuy rằng họ ở trong thế lúng túng, có thể nói là khi bức tường Berlin sụp đổ thì như ‘trời sập’ trên đầu họ, nhưng họ là lực lượng duy nhất và họ vẫn trụ được. Và chúng ta bỏ lỡ một cơ hội.”

Sắp bỏ lỡ thêm một cơ hội?

Ông Nguyễn Gia Kiểng (phải)

Ông Nguyễn Gia Kiểng (phải) đang sống tại Lognes, thuộc ngoại ô mạn Đông Paris, Pháp

“Ngày hôm nay, chúng ta đang sắp sửa bỏ lỡ một cơ hội, tại vì Đại hội vừa qua của Đảng Cộng sản, tôi nghĩ rằng có một sự rập khuôn theo công thức của Trung Quốc, tức là cũng nhất thể hóa, cũng tập trung quyền lực vào một người, rồi cũng đặt trọng tâm vào vấn đề chống tham nhũng.

“Những điều đó theo tôi không có tác dụng, bởi vì nếu chúng ta thực sự muốn chống tham nhũng, phải hiểu bản chất của tham nhũng. Chúng ta phải hiểu đó là một vấn đề có tính cách đạo đức. Tham nhũng định nghĩa của nó là một vi phạm đạo đức bằng cách sử dụng công quyền cho lợi ích cá nhân, bản chất của nó là như thế.

“Như vậy nếu chúng ta duy trì chế độ độc tài có quá nhiều quyền lực dồn vào quá nhiều dồn vào một đảng, chúng ta không thể chống được tham nhũng, bởi vì chừng nào có quyền lực, chúng ta đều hiểu là vẫn còn tham nhũng. Đó là vấn đề nguyên tắc, nhưng thực tế cũng cho ta biết là đạo đức là những gì chúng ta chỉ có thể làm gương, chứ chúng ta không thể thuyết phục được.

“Cho nên như mọi vấn đề đạo đức, tham nhũng khi đã đạt tới một mức độ nào đó thì nó không thể sửa chữa được nữa. Ở một mức độ nào đó, người ta không thể cải tổ được một chính quyền tham nhũng để nó hết tham nhũng, mà người ta chỉ có thể thay thế một chính quyền tham nhũng bằng một chính quyền khác.

“Hiện nay, đáng lẽ ra – tôi nghĩ một chính quyền khác không nhất thiết phải là chính quyền ‘chống cộng’, không nhất thiết phải là chính quyền hoàn toàn độc lập với Đảng Cộng sản, cũng có thể có những người Cộng sản ở trong đó. Thì đây là một cơ hội mà tôi nghĩ rằng vào lúc này chúng ta đang sắp có một cơ hội. Cơ hội đó đến bởi vì công thức, mô hình gọi là Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa đã đến ‘giai đoạn chót’, đằng nào nó cũng sẽ bị ‘đào thải’.

“Trung Quốc (kể cả Việt Nam) đang gặp những khó khăn… không phải chỉ là do Donald Trump gây cuộc chiến tranh thương mại đâu, mà bởi vì các quốc gia – dù các quốc gia phương Tây, các nước dân chủ giàu mạnh ở một mức độ nào đó – trong cuốn Dự án Chính trị của chúng tôi “Khai sáng Kỷ nguyên thứ hai” – chúng tôi đã nói rõ là bắt buộc phương Tây, Hoa Kỳ và các nước Âu Châu, phải xét lại sau một thời gian họ chấp nhận thâm thủng mậu dịch, dù là Donald Trump, hay không phải Donald Trump, cũng bắt buộc phải thăng bằng mậu dịch.

“Và thời đại vàng son [đã hết], giai đoạn ân huệ của chính sách Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa – mà về bản chất là xuất khẩu thật nhiều, với giá thật rẻ để xuất khẩu tối đa – có nghĩa là Trung Quốc cũng như Việt Nam xuất khẩu ‘sự nghèo khổ’ mà chính họ là tác giả. Tôi nghĩ mô hình đó dù có ‘Donald Trump’ hay không cũng chấm dứt và chúng ta sắp phải xét lại toàn diện.

“Tôi nghĩ vào giờ này là những người Việt Nam, nếu chúng ta quan tâm tương lai của đất nước mình, thì đây chính là lúc chúng ta nhìn nhau với một con mắt thân thiện hơn để cùng nhau tìm một giải pháp cho đất nước, để đừng làm lỡ thêm một cơ hội nữa. Và tôi nghĩ rằng, tôi hơi bi quan, bởi vì tôi thấy rằng trong thời gian vừa qua, chính quyền đã hành động ngược với nhu cầu và tình thế. Tức là thay vì có một thái độ khoan dung hơn để tìm một giải đáp chung cho tất cả đất nước, thì lại có những bản án rất thô bạo.

“Tôi nghĩ rằng chính quyền này họ không hiểu rằng cả mô hình Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa đang bế tắc,” ông Nguyễn Gia Kiểng nói với BBC từ nhà riêng tại Lognes, ngoại vi Paris, Pháp.

Ông Nguyễn Gia Kiểng, hiện sinh sống tại Pháp, là một nhà hoạt động, thành viên sáng lập của tổ chức Tập Hợp Dân chủ Đa nguyên, từng đi ‘học tập cải tạo’ sau biến cố 30/4/1975 ở miền Nam Việt Nam. Chia sẻ của ông nằm trong loạt bài thuộc chuyên mục ‘Người Việt toàn cầu’ của BBC Tiếng Việt.

 

More reading