Featured

Pizza bún đậu mắm tôm

Pizza bún đậu mắm tôm
sự kết hợp kỳ quái của ẩm thực đông tây

Souce: Internet

Một nhà hàng nổi tiếng tại TP.HCM vừa đưa món pizza bún đậu mắm tôm vào thực đơn các món ăn. Sự kết hợp khó hiểu và chưa từng có giữa hai nền ẩm thực Việt Nam – Italy này đã nhanh chóng thu hút sự chú ý ngay khi công bố. Trên các diễn đàn ẩm thực, khá nhiều ý kiến bày tỏ sự bất ngờ, cũng không ít bình luận hoài nghi và tiêu cực.

https://photo-2-baomoi.zadn.vn/w700_r1/2019_03_07_119_29891395/3b0e04e4fba512fb4bb4.jpg

Món ăn có đế pizza nguyên bản nhưng topping lại là các thành phần thường thấy trong một suất bún đậu mắm tôm như đậu rán, lá tía tô, thịt lợn luộc… Món pizza bún đậu được phục vụ kèm một chén mắm tôm, thay vì tương ớt, tương cà như thông thường, để thực khách có thể chấm hoặc phết lên trước khi ăn.

Trên một diễn đàn mạng, bức ảnh về chiếc bánh pizza kiểu mới thu hút hơn 2.000 lượt like (thích) và hàng nghìn bình luận.

“Món ăn quái lạ gì thế này? Thật không hiểu nổi ý tưởng kết hợp pizza cùng mắm tôm sẽ cho ra hương vị thế nào đây?”, thành viên Lan Anh bất ngờ.

Tài khoản Linh Bui cũng bình luận: “Ý tưởng quá tệ. Không phải đặc sản nào kết hợp cũng ra món ngon”. Tài khoản Anton Đỗ cũng nêu ý kiến: “Sự độc đáo là điều tốt, nhưng làm sao khách Tây có thể chịu nổi mùi vị của mắm tôm?”.

Facebook Thuy Le lại lại bày tỏ mong muốn được thử món ăn mới lạ này: “Mau cho món này ra Hà Nội đi. Mình không chắc sẽ ngon nhưng rất muốn thử! Có lẽ ăn sẽ rất buồn cười!”.

Món pizza bún đậu mắm tôm này hiện được bán tại TP.HCM với giá 140.000 đồng/chiếc.

Advertisements

Chuyện ‘con trai của Marx’ và người đầy tớ gái ở London

BBC

 

  • Bản quyền hình ảnh Mondadori Portfolio
    Image caption Karl Marx, Friedrich Engels và ba con gái của Marx

    Các đoàn thăm mộ Karl Marx ở nghĩa địa Highgate, London có thể không biết rằng còn một người nữa gắn bó với gia đình ông tổ chủ nghĩa cộng sản cũng được chôn cất tại đó.

    Đó là bà Helene Demuth, người đầy tớ từ Đức theo Jenny von Westphalen sang Anh để phục vụ cho nhà Marx và đã sinh cho Karl Marx một con trai, theo các sử liệu tại Anh.

    Thời kỳ tại London là giai đoạn gia đình Marx sống cơ cực vì bần hàn, bệnh tật.

    Trong bảy con của họ có bốn chết hồi nhỏ: hai con trai Charles Edgar, Henry, con gái Franziska, và thêm một em bé tử vong lúc sơ sinh chưa kịp đặt tên.

    Cũng không biết vì lý do gì mà trong ba con gái trưởng thành của Marx, Jenny Caroline, Jenny Laura và Jenny Eleanor, thì hai người tự tử.

    https://ichef.bbci.co.uk/news/624/cpsprodpb/4066/production/_101168461_gettyimages-462128506.jpg

    Bản quyền hình ảnh Carl Court
    Image caption Căn nhà số 28 Dean Street, khu Soho, London có tấm biển nhỏ về Karl Marx. Đây cũng là nơi Helene Demuth sinh ra con trai Freddy

    Trên nền một gia đình bất hạnh như thế, người ta nói đến cuộc sống khoẻ mạnh, ổn định và đáng kính của Freddy Lewis Demuth, con ngoại hôn của Marx ở Anh.

    Gia đình phức tạp

    Ta hãy điểm lại cuộc sống di cư vất vả vì hoạt động cách mạng của Karl Marx cùng các vấn đề tình ái của ông.

    Sau Cách mạng 1848, Marx bị trục xuất khỏi quê hương ở Đức và bị đuổi khỏi Brussels nên đem vợ con sang Anh.

    Ông xin nhập tịch Anh mà không được và suốt đời chỉ là một kiều dân Đức có quyền cư trú.

    Về hoàn cảnh cá nhân, Karl Marx (1818-1883) chỉ là nhà báo nghèo gốc Do Thái nhưng cưới vợ là Johanna Jenny von Westphalen, con nhà quý tộc Phổ (Prussia).

    Đằng nội Jenny có các quan chức cao cấp, còn họ ngoại (Wishart) là quý tộc Scotland, trực hệ của vua James I Stuart.

    Cuộc hôn nhân vì lý tưởng – cha của Jenny tin vào Cách mạng Pháp và chủ nghĩa xã hội sơ khai – nhưng bất bình đẳng về gia thế là vấn đề cho cuộc đời hai người.

    Cả hai đều không biết kiếm tiền nhưng cố sống theo phong cách nhà giàu và mọi việc trong nhà đều cần đầy tớ.

    Sau khi sang Anh, Jenny đã có lần trở về Đức xin gia đình trợ giúp kinh tế nhưng bị từ chối.

    Helene Demuth (1820-1890) là con gái một người thợ làm bánh, từ tuổi nhỏ đã làm hầu gái cho Jenny, và cùng gia đình Marx sang Anh.

    Còn gọi là Nimy hoặc Lenchen, Helene chuyển sang làm người hầu cho Friedrich Engels sau khi Marx chết.

    Câu bé trở thành người Anh

    Marx làm Helene có thai cùng lúc vợ ông Jenny mang thai con gái Jenny Eveline Frances tức Franziska. Bé này chết khi chưa đầy một tuổi năm 1852.

    Nhưng bé trai con của Helene sinh ra khoẻ mạnh năm 1851 ở căn nhà 28 Dean Street, Soho.

    Để ‘chạy tội’ cho bạn, Engels đã nhận với Jenny rằng ông là cha của Freddy, theo Mary Gabriel trong cuốn sách ‘Love and Capital’ về Marx và Jenny.

    Không chỉ có chuyện làm người hầu có mang, Marx bắt Helene đuổi bé trai Freddy khỏi nhà ngay sau khi chào đời.

    Helene Demuth và Jenny Marx

    Bản quyền hình ảnh Getty Images
    Image caption Helene Demuth (trái) làm hầu gái cho Jenny von Westphalen (phải) ở Đức và sau sang Anh sống cùng gia đình Jenny và Karl Marx cho đến lúc cuối đời

    Ngày nay, một số tác giả thiên vị Marx tìm cách giải thích cho hành động này.

    Theo họ, việc đem Freddy cho người khác nuôi (foster out) là đúng theo các quy tắc ứng xử thời đó ở Anh: một gia đình khả kính không nuôi con của ôsin.

    Harrison Fluss và Sam Miller thì viết trên một tạp chí thiên tả ở Anh hồi 2016, giải thích rằng dù Karl Marx có con riêng với Helene nhưng chính tình yêu ‘vô hạn’ của Jenny đối với chồng đã giúp gia đình họ vượt qua cuộc khủng hoảng.

    Được một gia đình người Anh họ Lewis ở khu xóm nghèo Hackney nhận về, Freddy Lewis Demuth đã lớn lên làm thợ, rồi nhà hoạt động nghiệp đoàn.

    Chính ông đã sáng lập ra chi bộ của Đảng Lao Động Anh tại khu Hackney và thường đọc các sách của Marx và Engels viết.

    Ông cũng có mặt trong các hoạt động cánh tả quốc tế, theo trang Hackney History.

    Con trai Freddy và bà Ellen Murphy (người Ireland) có tên là Harry và hồi nhỏ vẫn tới nhà Engels để thăm bà nội Helene.

    Harry Lewis tiếp tục đi theo các hoạt động xã hội và tham gia nhóm Dân chủ Xã hội Hackney, London nhưng dừng ở đó chứ không theo chủ nghĩa cộng sản.

    Sau đó, ông sang Australia định cư.

    Những khoản tiền lớn trong gia đình cộng sản

    Ngày nay, các tác giả Anh và Mỹ coi Freddy hoàn toàn là người Anh và không bày tỏ nhiều thiện cảm với nhóm người Đức ‘cách mạng’ là Marx và Engels.

    Mary Gabriel cho rằng cuộc hôn nhân của Marx chắc chắn không có gì là ‘Marxist’ tức là không hề nhân ái, bình đẳng như ông rao giảng.

    Theo ghi nhận của Louise Kautsky, vợ của Karl Kautsky – nhà Marxist nổi tiếng bị Lenin sau này chửi là ‘tên phản bội’ – thì Engels luôn lạnh nhạt với Freddy.

    Trước khi chết năm 1895, Engels đã nói với các con gái của Marx rằng ông không phải là cha của Freddy.

    Điều này được ghi lại trong các bức thư Eleanor viết cho Laura rằng cô cảm thấy có lỗi ‘suốt đời’ với Freddy.

    Nay ta cũng biết các con gái lớn nhà Marx đã có gắng làm sao để Freddy có tên trong di chúc Engels để lại nhưng không thành.

    Năm 1896, Eleanor Marx giới thiệu Freddy với Clara Zetkin tại Quốc tế Xã hội Chủ nghĩa II ở Queen’s Hall, Langham Place, London, là “anh cùng cha khác mẹ của tôi”.

    Bản quyền hình ảnh HackneyHistory
    Image caption Freddy Demuth lúc trẻ – hình của trang HackneyHistory

    Khi qua đời, Engels, nhà tư bản bỏ tiền cho Marx viết về chủ nghĩa cộng sản, để lại gia sản rất lớn, tương đương 4,8 triệu đô la ngày nay.

    Freddy

    Trong số đó, phần cho các con gái Marx là bằng 2 triệu bảng Anh bây giờ, cộng thêm 20% cổ phần trong nhà máy.

    Ngoài ra, di chúc của Engels không để lại gì cho ai khác vì chính thức mà nói, ông không có con.

    • Jenny Caroline Marx Longuet, con gái cả của Marx, chết năm 39 tuổi ở Argenteil, Pháp.
    • Eleanor Marx tự sát chết ở London năm 1898 và được chôn cất trong nghĩa địa Highgate cùng cha mẹ.
    • Laura Marx tự tử ở Graveil, Pháp năm 1911 cùng chồng là Paul Lafargue, nhà hoạt động xã hội chủ nghĩa Pháp gốc Cuba.
    • Từ đó, trong các con của Marx chỉ còn lại người con không được thừa nhận là Freddy.

    Nhưng khi ông qua đời năm 1929, Freddy để lại gần 2000 bảng Anh (bằng 120 nghìn năm 2017), khoản tiền rất lớn với người chỉ làm công nhân.

    Điều này khiến người ta tin rằng ông có nhận được một phần tiền thừa kế Engels để lại từ chị em nhà Marx.

    Cuối cùng thì tình cảm và đồng tiền có vẻ vẫn rơi lại cùng một chỗ.

    Câu chuyện tình, tiền về những người cộng sản nhập cư đầu tiên tại Anh tiếp tục khiến dư luận Anh ngạc nhiên.

 

 

More reading

30 năm World Wide Web

Google kỷ niệm 30 năm World Wide Web
cái nôi của Internet

TGTH

Sự bùng nổ về số lượng các website giúp người dùng Internet tăng trưởng từ vài triệu của thập niên 90, lên hơn 4,2 tỷ vào cuối năm 2018. 

Hôm nay (12/3), Google kỷ niệm 30 năm ra đời của Word Wide Web thông qua tính năng Google Doodle.

World Wide Web, gọi tắt là Web hoặc WWW, hay mạng lưới toàn cầu, là một không gian thông tin toàn cầu mà mọi người có thể truy cập (đọc và viết) thông tin qua các thiết bị kết nối với mạng Internet.

Hệ thống thông tin trên Internet cho phép các tài liệu được kết nối với các tài liệu khác bằng các liên kết siêu văn bản, cho phép người dùng tìm kiếm thông tin bằng cách di chuyển từ tài liệu này sang tài liệu khác.

Nhờ có sự bùng nổ của World Wide Web, số lượng người dùng Internet ngày một tăng, giúp nhân loại tiếp cận được kho tri thức vô tận chỉ bằng cách sử dụng máy tính hoặc một chiếc điện thoại thông minh.

Cùng nhìn lại những cột mốc đáng nhớ của Internet – thế giới mà nay đã có hơn 4,2 tỷ người luôn thường xuyên sử dụng.

1969: Cha đẻ của Internet

Tháng 10/1969, các nhà nghiên cứu tại trường Đại học California, Los Angeles (UCLA) đã thử nghiệm chuyển đổi dữ liệu giữa hai máy vi tính tách rời.

Nhiệm vụ đầu tiên của họ là nhập vào 3 ký tự “LOG”, rồi cố gắng gửi sang thiết bị kia dưới dạng nhị phân, rồi sau đó mới gửi tiếp hai chữ cái I và N để tạo thành chữ “LOGIN” (đăng nhập).

Sau nhiều nỗ lực, các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm thành công điều tưởng như vô cùng đơn giản nói trên. Ít ai biết rằng hệ thống này được coi là “cha đẻ của Internet”, phát triển từ 4 máy tính được sử dụng bởi mạng lưới nội bộ trong trường Đại học và quân sự. Dự án có tên là ARPANET, và được tài trợ bởi Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ.

Hệ thống mở rộng thành 13 máy tính vào năm 1970, và 213 máy tính vào năm 1981.

1971: Tin nhắn điện tử đầu tiên

Năm 1971, nhà nghiên cứu người Mỹ Ray Tomlinson thực hiện thành công email điện tử đầu tiên trên mạng ARPANET. Ông gửi tới từng tài khoản trong mạng lưới thông qua ký tự @ mở đầu – cũng giống như khi chúng ta gửi email ngày nay.


1983: Mạng lưới kết nối

Để chuyển giao dữ liệu giữa 2 máy tính trong cùng mạng lưới, giao thức (protocol) là điều kiện cần, cùng một loạt các giai đoạn được kiểm soát bởi các quy tắc giao tiếp.

Trong những năm 1979, hai nhà nghiên cứu người Mỹ là Robert Kahn và Vinton Cerf đã phát triển thành công giao thức TCP / IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol), và vẫn được sử dụng cho tới ngày nay. Nó cho phép trao đổi dữ liệu giữa các máy tính trong cùng một mạng nội bộ hoặc khác mạng.

Giao thức được thông qua vào ngày 1/1/1983 trên hệ thống ARPANET, cho phép nó lần đầu tiên chính thức liên kết với các mạng máy tính khác, chủ yếu là tại các trường đại học. Từ những kết nối này, Internet đã được ra đời.

1990: Đón chào sự ra đời của World Wide Web

12/3/1989, nhà nghiên cứu người Anh Tim Berners-Lee, làm việc tại viện nghiên cứu CERN, đề xuất một hệ thống quản lý thông tin phi tập trung. Hệ thống này đã báo hiệu sự ra đời của World Wide Web.

Quan điểm của ông là CERN có hàng ngàn nhân viên cùng những người mới đến vào mọi thời điểm trong tháng, khiến việc tìm kiếm thông tin trở nên phức tạp do không được lưu trữ ở cùng một nơi.

Ông đề xuất một hệ thống các liên kết siêu văn bản, với khả năng khi nhấp chuột vào các từ khóa, chúng được dẫn trực tiếp đến một trang web khác với nội dung cụ thể.

Năm 1990, nhà nghiên cứu người Bỉ Robert Cailliau đã hợp tác với Berners-Lee để hiện thực hoá phát minh của mình. Nó dựa trên hai yếu tố chính là ngôn ngữ HTML và giao thức trao đổi siêu văn bản HTTP.

Vào tháng 12, máy chủ WWW đầu tiên đã đi vào hoạt động. Đây được mô tả là một hệ thống nơi các trang web, hình ảnh và video được lưu trữ – hay còn được coi là trang web đầu tiên trên thế giới.

Trang web được công khai vào tháng 4/1993, và bắt đầu lan rộng từ tháng 11 với sự ra mắt của Mosaic, công cụ tìm kiếm đầu tiên chấp nhận hình ảnh. 
Điều này tạo ra cuộc cách mạng hóa website, giúp nó thân thiện hơn với người dùng.

Sau đó, Mosaic dần được thay thế bằng các ứng dụng như Internet Explorer, Google Chrome và Mozilla Firefox. Nhờ có web, số lượng người dùng Internet đã thực sự bùng nổ, từ vài triệu người vào đầu những năm 1990 đến hơn 400 triệu người vào năm 2000.

Thập niên 2000: Kỷ nguyên di động và mạng xã hội

Những năm đầu của thập niên 2000 đánh dấu bước chuyển đổi mạnh mẽ sang mạng không dây, nơi thiết bị di động và mạng di động đóng vai trò chủ chốt.

Tất cả bắt đầu từ năm 2007, khi Apple ra mắt chiếc iPhone đầu tiên, mở ra một kỷ nguyên mới cùng sự tham gia của không dưới 20 hãng di động tại khắp nơi trên thế giới. 10 năm sau, số người sử dụng mạng di động tăng từ 268 triệu, lên thành 4,2 tỷ người trên khắp thế giới.

Mạng xã hội bắt đầu từ dự án mang tên Facebook, được Mark Zuckerberg trình làng vào năm 2003. Dự án lúc bấy giờ chỉ hoạt động như một mạng nội bộ dành cho các sinh viên trường Đại học Harvard.

Cho tới nay, Facebook đã có hơn 2,3 tỷ người dùng.

 

More reading

Chủ nghĩa CS goulash ở Hungary từng hiệu quả vì “ngon bổ rẻ”

Chủ nghĩa CS goulash ở Hungary
từng hiệu quả vì “ngon bổ rẻ”

Nguyễn Giang BBC

More reading

  • Mùa hè năm 1990 tôi sang Hungary lần đầu và thấy choáng ngợp trước đường phố đầy hàng hóa, tuyến xe điện ngầm hiện đại ở Budapest.

    Đã qua các thành phố xám ngắt của Liên Xô, tới một Ba Lan chỉ có ‘dấm, sữa chua và Coca Cola trên quầy’ trong cửa hàng, tôi và mấy người bạn sinh viên từ Việt Nam cảm nhận được Hungary ‘đúng là tư bản rồi’.

    Sau này đọc sách thêm mới biết Hungary từng có ‘chủ nghĩa cộng sản goulash’, món ăn tinh thần ‘nhiều, bổ và rẻ’ phù hợp với thực tiễn chính trị Chiến tranh Lạnh.

    Mà câu chuyện này phải đưa chúng ta trở về những năm 1960.

    Nữ bác sĩ Hungary ‘làm bạn’ với Kim Nhật Thành
    Bác sỹ người Việt tại Budapest nói về cuộc sống ở Hungary
    Chủ tịch Quốc Hội VN thăm Hungary

    Chủ nghĩa cộng sản ‘súp thịt’

    Gulyáskommunizmus, hay đường lối Kadarism, mang tên TBT Đảng Cộng sản Hungary János Kádár khi đó, là một biến thể của mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa, hình thành tại CHND Hungary sau biến cố 1956.

    Để nắm quyền mà không phải trở lại với các biện pháp cực đoan thời Stalin, một số nước Đông Âu được Moscow cho phép thí điểm cơi nới hệ thống.

    Mặt khác, thấy sự phản kháng của dân năm 1956 trước quân đội Liên Xô, Đảng Công nhân XHCN Hungary (cộng sản) thấy cần ‘tháo van’ kiểm soát để kinh tế dễ thở hơn.

    Hàng chục năm trước Khai phóng ở Trung Quốc và Đổi mới ở Việt Nam, Hungary cho áp dụng vài nét của kinh tế thị trường trong nông nghiệp và buôn bán lẻ.

    Được gọi là ‘chủ nghĩa cộng sản goulash’, theo tên món súp thịt nổi tiếng của người Hungary, đây cũng là sự tạm gác bỏ ý thức hệ.

    Janos Kadar hiểu rằng người dân không mặn mà gì với chủ nghĩa cộng sản, nhưng miễn là họ đừng đụng vào chính trị thì nhà nước cũng để yên cho họ làm ăn.

    Trong giáo dục, truyền thông, đảng cầm quyền cũng không bắt toàn xã hội phải ca tụng họ như trước.

    Các lãnh đạo, như bản thân ông Kadar, đều né tránh bị mô tả như ‘lãnh tụ vĩ đại’ – vì dư âm tiêu cực của thời Stalin.

    Người dân cũng không phải tích cực ủng hộ cuồng nhiệt chế độ XHCN, mà chỉ cần họ không chống là tốt rồi.

    Janos Kadar nói câu nổi tiếng: “Ai không chống chúng ta là bạn của chúng ta.”

    Đây là cách nhìn thực tiễn và ‘chọn mẫu số chung thấp nhất’, để xây dựng quan hệ phải chăng giữa đảng cầm quyền và dân.

    Nhưng điểm cốt yếu của ‘chủ nghĩa cộng sản súp thịt’ vẫn là kinh tế.

    Ở đây, Kadar đã làm được những điều mà người tương nhiệm Ba Lan, Edward Gierek không làm nổi.

    Đầu tiên là về chế độ nửa cộng sản, nửa tư nhân trong quản lý nông nghiệp.

    Kadar hiểu nông dân Hungary không thích vào các nông trang tập thể, nên hệ thống tập thể hóa ở nông thôn bị xóa bỏ.

    Nhưng ông không thể bỏ nó hẳn, ít ra là về cái tên.

    Sau năm 1956, các nông trường nhà nước Hungary mất 2/3 thành viên. Nhiều nông dân tự bỏ và về làm vườn riêng.

    Kadar chấp nhận tình trạng đó nhưng mời họ vào hợp tác xã mà cơ chế quản lý thoáng hơn nông trường.

    Người ta được thuyết phục là vừa giữ nguyên miếng bánh vừa có thể ăn nó thoải mái. Không ai cần phải lo âu về các khoản nợ, vốn chỉ tăng thêm nhờ lương hưu hào phóng thời cộng sản

    Dan Payne

    Rút cục là nông dân Hungary, cho đến những năm 1957-59, làm ăn trong tình trạng ‘tự nguyện vào hợp tác’ để thực sự là làm ăn riêng.

    Họ thuê dài hạn đất đai từ nhà nước, tự chăm lo các đàn gia súc, và bán sản phẩm ra chợ hoặc bán lại cho chính quyền.

    Nhà nước cũng trợ cấp nhiều về vốn và công nghệ cho các hợp tác xã.

    Điều thần kỳ đã xảy ra: đến năm 1962, gần 95% đất nông nghiệp thuộc về nông trường hoặc hợp tác xã – đạt tiêu chuẩn ý thức hệ cộng sản mà Liên Xô yêu cầu.

    Trong cả khối Đông Âu theo kinh tế kế hoạch hóa có mỗi Hungary đạt mục tiêu sản xuất lương thực vượt mức kế hoạch.

    Ai đang muốn đưa Chủ nghĩa Toàn trị trở lại?
    Ngày Liên Xô đàn áp Mùa xuân Prague 1968
    Mùa xuân Prague và cuộc đàn áp đẫm máu
    Giám mục Ba Lan: ‘hãy để yên người quá cố’

    Sang thập niên 1960, Kadar xin phép Khrushchev cho ‘giải thể nốt di sản Stalin’.

    Liên Xô đồng ý rút cố vấn ngồi đầy trong các bộ ngành của Hungary từ 1956 về nước.

    Sang giai đoạn 1961-62, Hungary còn không coi thẻ đảng viên cộng sản là ‘bùa chú’: chuyên gia ngoài đảng viên vẫn có thể giữ chức trong bộ máy.

    Cùng lúc, để chứng tỏ ông rất ‘vì dân’, Kadar loại khỏi Đảng những kẻ cơ hội, cầm thẻ đảng để có chức quyền, lợi ích.

    Kadar đã đi trước Đặng Tiểu Bình nhiều năm về chính sách thực tiễn.

    Còn Việt Nam phải gần đây mới dám mời chuyên viên có mác ngoại, không đảng viên cộng sản vào Ban tư vấn hay Tổ tư vấn cho thủ tướng.

    Những thứ đó, Kadar đã làm từ năm 1962.

    So với quốc gia cũng trải qua quá trình tương tự là Ba Lan thì cải cách của Janos Kadar thành công hơn.

    Tại Ba Lan, TBT Edward Gierek lên cầm quyền cũng với tinh thần cởi mở, xóa bỏ di sản của thời Stalin và mở cửa trong phạm vi có thể với Phương Tây.

    Image caption Lễ thượng cờ trước nhà Quốc hội Hungary ở Budapest: Sau năm 1989, Hungary trở lại với các giá trị dân tộc Ba Lan cho các công ty Tây Âu vào đầu tư, cho nhập thuốc lá Mỹ, máy cày Anh và dụng cụ công nghiệp từ Pháp, Đức, bằng chính tiền đi vay.

    Khi Gierek lên nắm quyền năm 1970, Ba Lan có khoản nợ nước ngoài vỏn vẹn 1 tỷ USD.

    Khi ông rời vị trí năm 1980, Ba Lan đã nợ 20 tỷ USD, và đến 1989, nợ và lãi suất lên 40 tỷ USD, bằng 77 tỷ theo thời giá năm 2011.

    Ba Lan và bài học cải tổ chính trị hậu cộng sản
    Khi Tổng Bí thư Đảng CS được dân mến
    Ba Lan muốn xóa hết tên tuổi ‘cộng sản’
    Nữ bác sĩ Hungary ‘làm bạn’ với Kim Nhật Thành

    Mất dần ánh hào quang

    Nhưng Hungary cũng mắc nợ Phương Tây dù không nhiều bằng Ba Lan, và đây là vấn đề chung của một nghịch lý trong khối XHCN Đông Âu.

    Chính vì không đến từ bầu cử dân chủ, chính quyền Hungary và cả Ba Lan, Tiệp Khắc đều phải làm một lúc hai việc trái ngược nhau:

    • Một mặt, họ thỏa thuận ngầm với người dân rằng tính chính danh của Đảng đến từ mức sống ngày càng nâng cao của dân. CHXH không hấp dẫn nếu dân sống nghèo;
    • Mặt khác, để kinh tế phát triển, họ phải vay tiền từ Phương Tây và nhập khẩu công nghệ để tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, vì công nghệ lạc hậu thì không thể nào xuất khẩu hàng hóa có lãi;

    Như New York Time viết năm 1983 về Hungary:

    “Chính quyền tin rằng để nắm quyền lực, họ phải đem lại cuộc sống tốt hơn, và điều đó cũng có nghĩa là dân chúng chấp nhận im lặng để đổi lấy điều kiện sống ngày càng tiến bộ và cùng lúc Liên Xô chấp nhận con đường ít nhiều độc lập của Hungary cũng để không phải lặp lại sự kiện năm 1956.”

    20 năm sau, mô thức này lỗi mốt mà Đảng CS vẫn cố kiểm soát tư tưởng để phòng ngừa thách thức có thật hoặc tưởng tượng từ nhiều phía.

    Điều này liên tục làm giới trẻ và trí thức không hài lòng.

    Sang nửa sau thập niên 1970, chủ nghĩa Kadar từng đem lại mức sống cao cho dân Hungary mất đi ánh hào quang.

    Hungary bước vào giai đoạn trì trệ trong thập niên 1980 dù vẫn để lại các hình ảnh rất hào nhoáng mà tôi tận mắt chứng kiến năm 1990.

    Ngày nay nhìn lại, như Dan Payne viết trên BBC News, không ít người Hungary tin rằng ‘tội ác’ to nhất của Janos Kakar là tạo ra một hệ thống không dám nói thật cho người dân về thực chất cuộc chơi nghịch lý của ông.

    “Người ta được thuyết phục là vừa giữ nguyên miếng bánh vừa có thể ăn nó thoải mái. Không ai cần phải lo âu về các khoản nợ, vốn chỉ tăng thêm nhờ lương hưu hào phóng thời cộng sản.”

    Nhưng kinh tế thì không thể tăng trưởng mãi khi mà kỳ vọng không có cơ sở vẫn được bộ máy tuyên truyền nuôi dưỡng.

    Bản quyền hình ảnh Getty Images Image caption Chủ nghĩa cộng sản há cảo tại TQ: vai trò của ý thức hệ giảm đi nhiều và người ta cần có cuộc sống hiện đại, sung túc

    Nhiều tên gọi khác nhau

    Chống tham nhũng là ‘tự ta đánh ta’?
    Hậu Cộng sản – cuộc chuyển đổi ‘chưa có điểm kết’
    TBT Trọng: ‘Cách mạng Tháng 10 mãi ngời sáng’
    Đôi nét Cuba nhân chuyến thăm của TBT Nguyễn Phú Trọng

    Mô hình xã hội chủ nghĩa đã có nhiều tên gọi khác nhau.

    Tại khu vực do Liên Xô kiểm soát, đó là chủ nghĩa xã hội hiện thực.

    Còn ở Tây Âu, sau Mùa Xuân Praha 1968, xu hướng không theo Moscow nữa phát triển, có tên chung là ‘Eurocommunism‘.

    Còn gọi là ‘chủ nghĩa cộng sản cải tổ‘, ý tưởng chính là hợp tác với cả trí thức, doanh nhân chứ không chỉ nhắm vào công nông.

    Sau này, nhiều cơ sở của cộng sản châu Âu chấp nhận đấu tranh nghị trường để thành phái dân chủ xã hội (socialdemocrats).

    Nhưng chủ nghĩa cộng sản goulash, hay chủ nghĩa cộng sản Trabant (tên chiếc xe của Đông Đức) là những biến thể đặc thù của Đông Âu.

    Sau này, thuyết ‘Mèo đen mèo trắng’ của Đặng Tiểu Bình, thuyết Ba đại diện của Giang Trạch Dân, và cả ‘CHXH hài hòa’ của Hồ Cẩm Đào cũng không có gì mới.

    Các chủ nghĩa thường đến từ một góc nhìn định trước về thế giới nên cũng không lạ nếu các xã hội có ý thức hệ cụ thể luôn phải thỏa hiệp giữa tư tưởng và thực tế.

    Câu chuyện của Hungary cho thấy xét cho cùng dù gọi tên gì thì một chủ nghĩa chỉ có sức sống nếu khiến người dân no bụng.

    Và no rồi thì người ta lại kỳ vọng những điều cao sang hơn mà đôi khi sự cứng nhắc của hệ thống không thỏa mãn được.

    Đó chính là điều vĩ đại và đơn giản của cuộc sống vốn luôn thách thức khuôn mẫu của các mô hình, bất kể tên gọi của chúng là gì.

Cách uống vodka đúng điệu kiểu Nga

“Có người ở vùng Bristol vừa bắt đầu làm một loại vodka lấy tên là Novichok,” Natasha Ward, chủ nhà tổ chức bữa tụ tập gặp mặt của chúng tôi nói, trong câu nói bà nhắc tới thứ chất độc thần kinh khét tiếng của Nga. “Và ngay lập tức họ được bảo: ‘Hãy dừng ngay lại!’.”

Ward vừa cười vừa dọn bàn, chuẩn bị bày biện cho buổi tụ tập tại gia ở Nam London, với các món ta thường gặp trong một bữa tiệc đãi khách thông thường.

‘Phép thuật’ khiến champagne sủi bọt

Đừng bao giờ uống whisky Scotch với đá

Pulque: ‘Rượu của các vị thần Aztec’

“Chúng ta sẽ bắt đầu với món cá trích muối, không phải cá trích ngâm dấm – người Anh ghét củ cải đường vì họ toàn phải ăn nó ở dạng ngâm dấm rất kinh, còn món cá trích cuộn thì trông như xác chết, ai cũng biết rồi đấy.”

Ward rất tinh thông khéo léo trong việc chuyển đổi qua lại giữa các nền văn hóa. Bà có một nửa dòng máu là người Nga, nửa là người Anh, và đã từng làm công tác phiên dịch rất đa dạng, từ phục vụ cho Liên Hợp Quốc cho tới Angelina Jolie và Mikhail Gorbachev.

Hôm nay, bà sẽ giải thích cho chúng tôi đích xác lý do tại sao người Nga lại hít bánh mì khi uống vodka.

Nhiệm vụ giải thích này không hẳn là một việc thú vị gì, nhưng rất quan trọng, bởi nó sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về đời sống Nga vào lúc thế giới đang rất thiếu vắng cái nhìn hiểu biết sâu sắc đối với văn hoá Nga, cũng thiếu cả sự cảm thông chia sẻ thực lòng với Nga.
Jonny Donovan                                                    Phong tục truyền thống hít bánh mì khi uống vodka
                                                    khiến ta biết về những nét thực tế của đời sống Nga

Với các nhà quan sát salon thì quan hệ giữa Nga và phương Tây hiện có vẻ lạnh lẽo tới mức châm biếm; tầng sương giá lạnh lẽo thời Chiến tranh Lạnh bao trùm trong các tường thuật thời sự gần đây về việc Nga và Mỹ rút khỏi hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, về vụ điệp viên Sergei Skripal cùng con gái Yulia Skipal bị đầu độc bằng chất độc Novichok tại Salisbury, Anh Quốc, và tất nhiên là cả về chuyện World Cup 2018 tổ chức ở Nga.

Những điều bạn chưa biết về bia

Điều kỳ diệu ẩn chứa trong một cốc bia

Thị trấn Pháp nơi người ta thả chai rượu xuống biển

“Chúng tôi thấy vui khi đội bóng đá Nga cuối cùng đã thua,” bà Anna Ivanov nói, trong khi ông chồng Misha thì nhún vai.

Anna và Misha là cha mẹ của Helena Bayliss – bạn thân của Ward; Hai vợ chồng ông bà chuyển từ Nga đến đây được 20 năm, khi con gái họ Helena Bayliss lấy chồng người Anh. “Chứ nếu đội Nga thắng, bầu không khí sẽ nóng hừng hực trên truyền thông. Cứ ra rả suốt!”

“Bây giờ thì,” bà Ward nói, “ta bắt đầu với loại vodka nào nhỉ?”

Màn chọn rượu vodka luôn ấn tượng, trước giờ vẫn vậy. Rốt cuộc thì bởi nước Nga là nơi sinh ra nhà hóa học Dmitri Mendeleev, người đã tạo ra Bảng Tuần hoàn Nguyên tố Hoá học và cũng được cho là người đã hoàn thiện công thức rằng vodka phải đạt nghiêm ngặt chuẩn 40% độ cồn (câu chuyện này được kể khá phổ biến, cũng là một chuyện tiếu lâm).

Ward đưa ra thứ rượu vodka pertsovka bốc lửa được làm từ ớt, vodka Nga nguyên chất – loại rượu vodka do công ty mới của diễn viên Hollywood Dan Aykroyd sản xuất tại Newfoundland kết hợp với rượu vodka chanh tự làm thủ công.

“Thứ này thực sự là cồn y tế, nồng độ tới 95%,” bà Ward nói một cách đơn giản, “rồi ta thêm nước vào, nửa nước nửa rượu, rồi thêm chanh nữa.”

Nói cách khác, nó là ‘rượu lậu’? “Không phải, nếu là rượu tự nấu, chúng tôi phải có nồi chưng cất.” Bayliss cười. “Natasha, cô thất vọng rồi phải không!”

Nhóm chúng tôi tụ tập vì hai lý do: thứ nhất, để tận hưởng những phút giây vui vẻ; và thứ hai, để uống vodka theo đúng nghi lễ truyền thống của Nga – một truyền thống được gìn giữ theo thời gian mà theo đó những tay sành sỏi phải hít bánh mì khi uống rượu mới là đúng kiểu.

Để bắt đầu, cả vodka lẫn ly uống đều được lấy ra từ tủ lạnh, và Bayliss nêu ra các quy tắc cốt yếu khi uống vodka theo kiểu Nga.

“Rượu vodka cần để lạnh, ly phải nhỏ xíu và phải có thứ gì đó mằn mặn, hoặc bánh mì lúa mạch đen, để nhấm nháp sau đó,” cô nói.

“Uống vodka xong rồi ăn miếng bánh kem chẳng hạn, là hỏng bét.”

“Mà,” Ward nói thêm, “không dùng kèm bất kỳ gì sau đó thì cũng không ổn!”

Rượu đương nhiên là phải ướp thật lạnh; như vậy lúc rượu đi qua cổ họng sẽ êm hơn. “Vodka không phải là thứ để bạn nhấp từng ngụm để thưởng thức hương vị,” Bayliss nói.

Vậy tại sao mọi người uống vodka? Mẹ của Bayliss cười. “Là bởi sau đó ta sẽ có cảm giác nóng toàn thân!”

Cảm giác nóng khắp người chính là cảm giác đầu tiên của tôi khi lần đầu thực hiện nghi thức hít bánh mì Nga.

Bà Ward là mẹ của Marsha, bạn thân của tôi.

Có nên ‘ăn sáng như hoàng đế’?

Ăn nhạt có hại bằng ăn quá mặn không?

Làm thế nào để tách caffeine khỏi cà phê

Thời còn là những đứa trẻ ngang bướng, Marsha và tôi rất thích tham dự các buổi tụ tập mà bà tổ chức sau mỗi chuyến đi công tác từ Nga về, bàn ăn có rượu mang từ nước ngoài về, dưa muối chua và bánh mì đen.

Chúng tôi thích nhìn bà Ward và những vị khách cười nói, kể những giai thoại dị thường khó tin, và quan trọng nhất là được nhấm nháp đồ ăn nhẹ ngay sau khi uống cạn những ly vodka.

Lúc những vị khách đã nhấm nháp tương đối đủ đồ ăn – nhưng bánh mì vẫn tiếp tục được nướng – thì họ sẽ hít bánh mì sau khi uống vodka, thay vì ăn nó. Chúng tôi đã rất kinh ngạc trước cảnh đó.

Hai thập kỷ sau, tôi lại bắt gặp nghi thức này trên một chương trình truyền hình được chiếu trong “giờ vàng”. Trong một tập của loạt phim House of Cards phát trên Netflix, tổng thống Nga ăn tối với tổng thống Mỹ và trình diễn cách uống vodka kiểu Nga – chỉ hít ngửi bánh mì.

Đó là một cảnh phức tạp, nặng tính trình diễn trong chương trình truyền hình chứ không hẳn là đúng như trong thực tế (“Chả ai làm thế với khách sang cả!” bà Ward la lên), nhưng khán giả nghe rõ âm thanh hít thở mạnh.

Các bài báo bình luận về tập phim thì cho rằng hít bánh mì để hả bớt hơi rượu và làm cân bằng vị vodka, trong khi muối và axit trong món dưa chua của Nga – giống như món dưa mà bà Ward bày trên bàn ăn – thì giúp trung hòa rượu.
Jonny Donovan                            “Rượu vodka cần để lạnh, ly phải nhỏ xíu và phải có đồ mồi mằn mặn để nhắm”

Nhưng theo Ward và bạn bè của bà thì nghi thức hít bánh mì không chỉ đơn thuần là để chống say rượu mà còn có tác dụng giao tiếp xã hội; bằng cách ăn hoặc ngửi bánh mì sau khi uống vodka, bạn chứng tỏ rằng bạn uống vodka đâu phải để say mèm.

Quê hương Stalin đối phó mối đe dọa từ Nga

Cộng sản, Bạch vệ và kho báu Sa Hoàng

Cộng sản, Sa hoàng, cướp biển Viking và nước Nga

“Nếu không có thứ gì để nhắm cùng vodka, như một miếng bánh mì mặn hoặc một ít cá trích, hoặc, hay hơn cả, là trứng cá muối, thì bạn hãy hít ngửi”, Bayliss nói. “Điều đó mang ý nghĩa biểu tượng.”

Ward đồng ý: “Việc hít ngửi chỉ xảy ra nếu bạn quá nghèo, không có thức nhắm thích hợp.” Hoặc tất nhiên là khi bạn đã quá no rồi. Thật vậy, nếu bạn chỉ có một ít bánh mì cho buổi tụ tập, thì bạn sẽ chuyền nó quanh bàn để mỗi vị khách có thể lần lượt hít ngửi nó.

Nhưng nếu thậm chí không có cả bánh mì? “Bạn hãy hít ngửi tay áo!”

Thế là chúng tôi uống lượt vodka đầu tiên của bữa tiệc: Misha lịch lãm nâng ly chúc mừng, vodka lạnh băng trượt êm dịu xuống và chúng tôi nhắm kèm với miếng bánh mì đen lớn phết bơ. Nhiều lượt uống nối tiếp, vô cùng hoan hỉ, mỗi người chúng tôi xé một mẩu bánh mì và hít ngửi ngon lành.

Có những quy tắc kiên định về cách thức uống vodka ở Nga. Nhưng một điều quan trọng không kém là lý do để uống vodka. Ở Nga, uống vodka là một hoạt động xã hội tuyệt vời; các bữa tiệc của người Nga diễn ra xung quanh bàn ăn, và uống rượu nên là một hoạt động nhóm, chả vui thú gì khi uống một mình.

Các món ăn nhẹ (zakuski) bày sẵn trên bàn tiệc là để cùng chia sẻ cho tất cả mọi người, và bạn phải tự lấy mà dùng, không chờ đợi để được mời mọc phục vụ. Bà Ward thậm chí còn chia sẻ một giai thoại của Nga về hai điệp viên Mỹ uống vodka; vỏ bọc của họ bị thổi bay chỉ vì thực tế họ đã uống mà không nhấm nháp zakuski.

Sau đó, đến tiết mục nói những lời chúc tụng. Misha có vẻ phấn khích và nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc chúc tụng. “Khi uống, bạn cần phải chuyện!” ông nói. “Không giống như ở Anh, nơi mọi người ngồi im một góc. Chúng ta ngồi với nhau cơ mà! Vì vậy, cần phải có một cái gì đó cho tất cả mọi người cùng làm. Điều đó giúp mọi người cảm thấy rằng họ là một nhóm đoàn kết.”

Ở nước cộng hòa Georgia thuộc Liên Xô cũ, nghi thức phát biểu những lời chúc mừng là những công việc phải chuẩn bị kỹ lưỡng, đến mức phải thuê các công ty chuyên nghiệp thực hiện.

Ngược lại, cách thể hiện chúc mừng của người Nga rất đơn giản – chỉ cần có ý tưởng là được. Ngày hôm đó, những lời chúc mừng nhiệt thành đã được tung hô trong cuộc gặp gỡ của chúng tôi, chúc mừng những người phụ nữ xinh đẹp trong bữa tiệc và chúc mừng vì sức khỏe của Nữ hoàng Anh.

Misha bắt nhịp các lời chúc và mọi người hô theo “hãy lên đường”, giống như nhà du hành vũ trụ Yuri Gagarin đã hô khi tàu của ông được phóng lên năm 1961.

Rõ ràng, người Nga có một niềm say mê sâu sắc với vodka. Ngay cả tên của thức uống này cũng rất đáng yêu – ‘voda’ có nghĩa là nước, và vodka là rút gọn của ‘tiểu thuỷ’, nàng nước bé nhỏ.

Nhưng uống vodka ở Nga cũng có mặt tiêu cực. Trong lịch sử, nạn nghiện rượu lan tràn ở Nga, và vodka (hoặc bất cứ thứ gì bạn có trong tay) đã trở thành một lối thoát tiêu cực khỏi sự khắc nghiệt của cuộc sống hàng ngày. “Như là địa ngục ở Liên Xô vậy,” bà Ward nói.
Jonny Donovan                                                        Các vị khách dự bữa tiệc Nga được khuyến khích
tự nhiên nhấm nháp đồ ăn nhẹ giữa các lần uống vodka

Thật vậy, trước khi Bayliss lấy chồng người Anh rồi Misha và Anna chuyển đến Anh để sống cùng cô, Misha làm công việc mang tính “mật” khiến ông không được ra khỏi nước Nga.

Thứ ‘nước thần’ giải say rượu ở Thổ Nhĩ Kỳ

Để đối phó với cơn đau đầu do say rượu bí tỉ

“Chúng tôi đã quen với cách sống này, dù rằng không phải là ổn,” Misha nói về cuộc sống của họ ở Nga thời Liên Xô. “Chúng tôi thường xuyên nghe đài BBC, đài Tiếng nói Hoa Kỳ và chúng tôi biết ở đó có một cuộc sống khác. Nhưng, bạn đã sinh ra ở đây, vì vậy bạn biết rằng bạn không thể đi bất cứ nơi nào.” Anna gật đầu đồng ý. “Điều đó giống như mơ về những điều không thể.”

Hai vợ chồng nhà Ivanov kể những câu chuyện về sự túng thiếu của người dân và đặc quyền đặc lợi của đảng mà không hề thêm bớt cường điệu hay bi kịch hoá.

“Bạn có tất cả mọi quyền, hoặc bạn không có chút quyền nào cả,” Anna nói. “Bạn cần phải đi mua rồi trả tiền cho món nào đó? Bạn sẽ thấy ngay lợi ích tác dụng của đảng. Bạn đến cửa hàng nhưng không mua được bất kỳ đôi giày nào, thế nhưng lại có cửa hàng đặc biệt dành riêng cho các quan chức của đảng và các quan chức KGB.”

Bất chấp những ký ức buồn này, vẫn còn đó sự ấm áp tuyệt vời đối với các truyền thống Nga mà chúng ta đã chia sẻ tại bàn ăn ngày hôm nay, từ hành động nâng ly cùng nhau chúc mừng cho đến kể lại những giai thoại và những trò đùa hài hước của người Nga xưa.

“Có người mang món cá trích đến dự một bữa ăn tối,” bà Ward kể chuyện vui, “khi bà chủ nhà mở chúng ra thì chúng cũ đến mức không còn ăn được nữa. Và người đã mang chúng đến nói, ‘Tôi rất xin lỗi vì quý vị đã hiểu sai – đây không phải là cá để ăn, mà là để biếu!”
Jonny Donovan                                Theo truyền thống của người Nga, mọi người phải trò chuyện trong khi uống

Đã đến lúc cho một màn chúc tụng khác, và Misha đứng lên phát biểu trang trọng – những lời này dành tặng những người bạn vắng mặt.

Rượu vodka được nâng lên uống, những mẩu bánh mì được cầm lên ăn và nĩa xiên vào cá mặn. Mọi người quanh bàn tiệc đều đỏ hồng đôi má và lấy làm mãn nguyện.

Khi trời chiều chuyển sang chạng vạng tối, Misha nhận xét một cách nghiêm túc: “Vodka giống như một con dao. Nó không tốt nhưng nó cũng chẳng tồi. Bạn có thể làm bất cứ điều gì với một con dao. Cắt thịt, cắt bánh mì – mà với một con dao chuyên dụng thì bạn có thể thực hiện ca phẫu thuật. Nhưng một con dao cũng có thể giết người; đâu thể đổ lỗi cho con dao.”

Ông ngưng một chút. “Vodka cũng vậy thôi. Đó là một loại thức uống, không xấu và cũng chẳng tốt. Nếu bạn biết, hẳn bạn sẽ phân biệt được. Tất cả đều sẽ ổn.”

Câu chuyện “ông Putin săn hổ” ….. nhận giải tin tức giả

Nguoiduatin

Tại buổi lễ trao giải Bobards d’Or (Trò chơi khăm Vàng) ở Paris, do Quỹ Polemia tổ chức, một số câu chuyện tin tức giả mạo lố bịch nhất trong những năm qua đã được vinh danh với tượng vàng được mô phỏng theo giải Oscar. Tuy nhiên, tượng vàng này lại là Pinocchio – tôn vinh những tin tức dối trá.

Tiêu điểm - Câu chuyện 'ông Putin săn hổ' giúp kênh truyền hình Pháp 'vinh dự' nhận giải tin tức giả

Giải thưởng được trao cho 3 hạng mục: “Trò chơi khăm truyền thống” cho các câu chuyện nội bộ của Pháp, “Trò chơi khăm quốc tế” cho các câu chuyện về các vấn đề đối ngoại, “Trò chơi khăm Ao vàng” – cho cách mà các phương tiện truyền thông phản ánh với cuộc biểu tình gần đây ở quốc gia này.

Một trong những người biểu tình Áo vàng là Fiorina Lignier, người đã mất một mắt do lực đạn của cảnh sát, thậm chí còn được mời làm một trong những giám khảo.

Trong số 15 ứng cử viên ban đầu, cuối cùng các giám khảo đã chọn ra các hạng mục chiến thắng. Tin tức được vinh danh cho “Trò chơi khăm quốc tế” là một câu chuyện liên quan đến Nga. Trong trường hợp cụ thể này, Nga không bị buộc tội bịa đặt tin tức giả mạo, mà lại được minh oan là nạn nhân.

Tượng Pinocchio vàng dành cho bản tin do kênh truyền hình France 2 phát hành vào tháng 8/2018 về thói quen nghỉ mát xa hoa của các nhà lãnh đạo thế giới, trong đó kênh truyền hình này cho rằng ông Putin đã từng đi săn hổ.

Thậm chí bản tin còn cung cấp hình ảnh nhà lãnh đạo Nga ngồi cạnh con hổ bất động nằm dài trên đất như thể đang tự hào về chiến lợi phẩm.

Ngoại trừ việc hình ảnh là có thật, mọi thông tin còn lại đều sai hoàn toàn. Những hình ảnh này được lấy từ một báo cáo năm 2008 về một chương trình bảo tồn hổ quốc gia và Tổng thống Vladimir Putin đang làm điều ngược lại với việc giết chết một loài động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng. Trên thực tế, nhà lãnh đạo Nga chỉ đang đặt vòng đeo cổ theo dõi GPS lên con vật trong nỗ lực bảo vệ loài vật quý hiếm.

Khi nhận được báo cáo về sai sót của mình, kênh truyền hình France 2 đã ngay lập tức rút bỏ bản tin ra khỏi trang web. Dẫu vậy, đại diện của France 2 vẫn chống chế cho rằng đây không phải là tin giả mà là “lỗi vô ý”.

Cách giải thích này ngay sau đó đã vấp phải sự chế giễu của nhiều cư dân mạng. Cựu ứng viên tổng thống Pháp Jean-Luc Melenchon gọi câu chuyện của France 2 là “chiến dịch tuyên truyền chống Nga thô thiển, do một nhóm giả mạo khuấy động”.

More reading